Thuốc nhỏ mắt Cosopt-S được chỉ định trong điều trị áp lực nội nhãn (IOP) tăng ở những bệnh nhân bị tăng nhãn áp, glôcôm góc mở, glôcôm giả bong bao hoặc glôcôm góc mở thứ phát khác khi bệnh nhân không đáp ứng đầy đủ với thuốc chẹn beta nhỏ mắt dùng đơn độc.
Số đăng ký
Quy cách
Thành phần
Xem tất cả thông tin
Lưu ý: Sản phẩm này chỉ bán khi có chỉ định của bác sĩ, mọi thông tin trên Website chỉ mang tính chất tham khảo.
Thuốc nhỏ mắt Cosopt-S Santen là gì?
Mặc định
Lớn hơn
Thuốc nhỏ mắt Cosopt-S được chỉ định trong điều trị áp lực nội nhãn (IOP) tăng ở những bệnh nhân bị tăng nhãn áp, glôcôm góc mở, glôcôm giả bong bao hoặc glôcôm góc mở thứ phát khác khi bệnh nhân không đáp ứng đầy đủ với thuốc chẹn beta nhỏ mắt dùng đơn độc.
Nhóm dược điều trị: Các chế phẩm điều trị glôcôm và co đồng tử; thuốc chẹn beta; timolol, dạng phối hợp.
Mã ATC: S01ED51
Cơ chế tác dụng
Cosopt-S gồm hai thành phần: dorzolamid hydroclorid và timolol maleat.
Mỗi thành phần đều làm giảm áp lực nội nhãn tăng bằng cách làm giảm sự tiết thủy dịch, nhưng theo các cơ chế tác dụng khác nhau.
Dorzolamid hydroclorid là một chất ức chế carbonic anhydrase II có hiệu lực ở người. Sự ức chế carbonic anhydrase trong các tua thể mi của mắt làm giảm sự tiết thủy dịch, có thể bằng cách làm chậm sự hình thành các ion bicarbonat và sau đó làm giảm sự vận chuyển natri và dịch.
Timolol maleat là một chất đối kháng thụ thể beta-adrenergic không chọn lọc. Cơ chế tác dụng chính xác của timolol maleat trong việc làm giảm áp lực nội nhãn đến nay vẫn chưa được thiết lập rõ ràng, mặc dù một nghiên cứu nhuộm fluorescein và các nghiên cứu nhãn áp ký cho thấy tác dụng chính có thể liên quan đến việc làm giảm sự hình thành thủy dịch. Tuy nhiên, trong một số nghiên cứu cũng đã quan sát thấy sự tăng nhẹ thoát thủy dịch.
Tác dụng kết hợp của hai hoạt chất này dẫn đến giảm thêm áp lực nội nhãn (IOP) so với việc sử dụng từng thành phần đơn độc.
Sau khi nhỏ tại chỗ, Cosopt-S làm giảm áp lực nội nhãn tăng, dù có hoặc không có liên quan đến glôcôm. Áp lực nội nhãn tăng là yếu tố nguy cơ chính trong bệnh sinh của tổn thương thần kinh thị giác và mất thị lực do glôcôm.
Thuốc này làm giảm áp lực nội nhãn mà không gây các tác dụng không mong muốn thường gặp của thuốc gây co đồng tử như quáng gà, co thắt điều tiết và co đồng tử.
Dorzolamid hydroclorid
Không giống như các chất ức chế carbonic anhydrase đường uống, việc dùng dorzolamid hydroclorid tại chỗ cho phép hoạt chất này phát huy tác dụng trực tiếp tại mắt ở các liều thấp hơn đáng kể và do đó có phơi nhiễm toàn thân ít hơn.
Trong các thử nghiệm lâm sàng, điều này dẫn đến giảm IOP mà không gây rối loạn acid–base hoặc thay đổi đặc điểm điện giải như các chất ức chế carbonic anhydrase đường uống.
Khi dùng tại chỗ, dorzolamid đi vào tuần hoàn toàn thân. Để đánh giá khả năng ức chế carbonic anhydrase toàn thân sau khi dùng tại chỗ, các nồng độ của hoạt chất và chất chuyển hóa trong tế bào hồng cầu và huyết tương, cũng như mức độ ức chế carbonic anhydrase trong hồng cầu, đã được đo lường.
Dorzolamid tích lũy trong hồng cầu khi dùng kéo dài là kết quả của sự gắn kết có chọn lọc với CA-II, trong khi vẫn duy trì nồng độ cực thấp của hoạt chất tự do trong huyết tương.
Hoạt chất ban đầu tạo thành một chất chuyển hóa N-desethyl đơn, chất này ức chế CA-II không mạnh bằng hoạt chất ban đầu nhưng cũng gây ức chế một isoenzym kém hoạt động hơn (CA-I). Chất chuyển hóa này cũng tích lũy trong hồng cầu, nơi nó gắn kết chủ yếu với CA-I.
Dorzolamid gắn kết vừa phải với protein huyết tương (khoảng 33%). Dorzolamid chủ yếu được bài tiết dưới dạng không đổi trong nước tiểu; chất chuyển hóa cũng được bài tiết qua nước tiểu.
Sau khi kết thúc dùng thuốc, dorzolamid được thải khỏi hồng cầu theo kiểu không tuyến tính, dẫn đến sự suy giảm nhanh nồng độ hoạt chất ban đầu, sau đó là một pha thải trừ chậm hơn với thời gian bán thải khoảng bốn tháng.
Khi dorzolamid được dùng đường uống nhằm mô phỏng mức phơi nhiễm toàn thân tối đa sau khi nhỏ mắt kéo dài, trạng thái ổn định đạt được trong vòng 13 tuần.
Ở trạng thái ổn định, hầu như không có hoạt chất tự do hoặc chất chuyển hóa trong huyết tương; sự ức chế CA trong hồng cầu thấp hơn mức được dự đoán là cần thiết để gây tác dụng dược lý trên chức năng thận hoặc hô hấp.
Các kết quả dược động học tương tự cũng được quan sát thấy sau khi dùng tại chỗ dorzolamid hydroclorid kéo dài. Tuy nhiên, một số bệnh nhân cao tuổi bị suy thận (CrCl ước tính 30–60 ml/phút) có nồng độ chất chuyển hóa trong hồng cầu cao hơn, nhưng không có sự khác biệt có ý nghĩa về mức độ ức chế carbonic anhydrase và không ghi nhận tác dụng không mong muốn toàn thân đáng kể nào có ý nghĩa lâm sàng có thể quy trực tiếp cho hiện tượng này.
Timolol maleat
Trong một nghiên cứu đánh giá nồng độ hoạt chất trong huyết tương ở sáu đối tượng, phơi nhiễm toàn thân với timolol được xác định sau khi nhỏ dung dịch nhỏ mắt timolol maleat 0,5% hai lần mỗi ngày.
Nồng độ đỉnh trung bình trong huyết tương sau liều buổi sáng là 0,46 ng/ml và sau liều buổi chiều là 0,35 ng/ml.
Bệnh nhân nên được hướng dẫn xử lý lọ đơn liều đúng cách như sau:
Không để lọ đơn liều chạm vào mắt hoặc vùng xung quanh mắt. Điều này có thể gây tổn thương mắt. Thuốc cũng có thể bị nhiễm các vi khuẩn gây nhiễm khuẩn mắt dẫn tới tổn thương mắt nghiêm trọng, thậm chí mất thị lực.
Để tránh tạp nhiễm vào dung dịch nhỏ mắt, phải mở một lọ đơn liều mới ngay trước mỗi lần sử dụng, mỗi lọ đơn liều chứa đủ dung dịch thuốc dùng cho cả hai mắt nếu bác sĩ yêu cầu nhỏ thuốc cho cả hai mắt.
Loại bỏ lọ đã mở cùng với lượng dung dịch còn lại ngay sau khi dùng.
Mở túi nhôm chứa các lọ đơn liều. Viết ngày mở túi lần đầu lên túi.
Mỗi lần sử dụng :
1. Rửa tay.
2. Lấy dây các lọ đơn liều ra khỏi túi.
3. Tách riêng 1 lọ đơn liều ra khỏi dây.
4. Đặt lại dây các lọ đơn liều vào túi và gấp mép túi để đóng túi lại.
5. Để mở lọ đơn liều, xoắn mở phần trên của lọ. (Hình A)
6. Giữ lọ giữa ngón cái và ngón trỏ. Chú ý không để đầu lọ cao quá 5 mm so với rìa ngón trỏ. (Hình B)
7. Ngửa đầu ra sau hoặc nằm xuống. Đặt tay lên trán. Nên đặt ngón trỏ ngang bằng với lông mày hoặc trên sống mũi. Nhìn lên. Kéo mí mắt dưới xuống bằng tay còn lại. Không để bất kỳ phần nào của lọ chạm vào mắt hoặc vùng xung quanh mắt. Bóp nhẹ lọ để một giọt thuốc rơi xuống khoảng trống giữa mí mắt và mắt (Hình C). Không chớp mắt trong khi đang nhỏ thuốc. Mỗi lọ đơn liều chứa đủ dung dịch thuốc cho cả hai mắt.
8. Nhắm mắt và ấn ngón tay vào khóe mắt trong khoảng 2 phút. Điều này giúp ngăn thuốc đi vào phần còn lại của cơ thể. (Hình D)
9. Lau bỏ lượng dung dịch thừa trên vùng da quanh mắt.
Nếu bác sĩ yêu cầu nhỏ thuốc cho cả hai mắt, lặp lại các bước từ 7 đến 9 cho mắt còn lại.
Sau khi nhỏ thuốc, bỏ lọ đơn liều đã sử dụng ngay cả khi vẫn còn dung dịch để tránh tạp nhiễm vào dung dịch không chứa chất bảo quản.
Bảo quản các lọ còn lại trong túi nhôm, các lọ đó phải được sử dụng trong vòng 1 tháng sau khi mở túi lần đầu.
Nếu còn bất kỳ lọ nào sau khi mở túi lần đầu 1 tháng, nên bỏ các lọ đó đi một cách an toàn và mở một túi mới.
Điều quan trọng là phải tiếp tục sử dụng thuốc nhỏ mắt như được kê đơn bởi bác sĩ. Nếu không chắc chắn về cách dùng thuốc, xin hỏi bác sĩ, dược sĩ hoặc y tá.
Xử lý thuốc sau khi sử dụng: Không có yêu cầu đặc biệt về xử lý thuốc sau khi sử dụng.
Liều dùng là một giọt nhỏ vào túi kết mạc của mắt bị bệnh hai lần mỗi ngày.
Nếu đang sử dụng một sản phẩm nhỏ mắt khác, và sản phẩm đó nên được dùng cách nhau ít nhất mười phút.
Thuốc này là dung dịch vô khuẩn không chứa chất bảo quản. Dung dịch chứa trong từng lọ đơn liều nên được nhỏ ngay lập tức vào mắt bị bệnh sau khi mở.
Vì không thể duy trì được sự vô khuẩn sau khi mở lọ đơn liều, phần thuốc còn lại phải được bỏ ngay lập tức sau khi nhỏ thuốc.
Bệnh nhân nên được hướng dẫn rửa tay trước khi nhỏ thuốc và tránh không để lọ thuốc chạm vào mắt hay các vùng xung quanh mắt bởi vì điều này có thể gây tổn thương mắt (xin xem mục Hướng dẫn sử dụng).
Bệnh nhân cũng cần được hướng dẫn rằng các dung dịch nhỏ mắt, nếu được xử lý không đúng cách, có thể bị nhiễm các vi khuẩn phổ biến gây nhiễm khuẩn mắt. Nhỏ dung dịch bị nhiễm khuẩn có thể dẫn đến tổn thương mắt nghiêm trọng và sau đó là mất thị lực.
Khi sử dụng kỹ thuật chặn ống lệ mũi hoặc nhắm mắt trong 2 phút, sự hấp thu toàn thân sẽ giảm đi. Điều này có thể dẫn đến giảm các tác dụng không mong muốn toàn thân và tăng tác dụng tại chỗ.
Trẻ em
Hiệu quả ở bệnh nhi chưa được thiết lập.
Tính an toàn ở bệnh nhi dưới 2 tuổi chưa được thiết lập.
(Các dữ liệu hiện có về tính an toàn ở bệnh nhi từ 2 đến dưới 6 tuổi được mô tả trong mục Dược lực học).
Không có dữ liệu liên quan đến quá liều ở người do vô ý hoặc cố ý dùng Cosopt (công thức có chất bảo quản) hoặc .
Triệu chứng
Đã có các báo cáo về vô ý quá liều với dung dịch nhỏ mắt timolol maleat, dẫn đến các tác dụng toàn thân tương tự như các tác dụng được ghi nhận với các thuốc chẹn beta-adrenergic đường toàn thân như: chóng mặt, nhức đầu, khó thở, nhịp tim chậm, co thắt phế quản và ngừng tim.
Các dấu hiệu và triệu chứng phổ biến nhất có thể xảy ra khi dùng quá liều dorzolamid là mất cân bằng điện giải, tăng tình trạng nhiễm acid và có thể có ảnh hưởng đến hệ thần kinh trung ương.
Có ít dữ liệu liên quan đến quá liều ở người do vô ý hoặc cố ý dùng dorzolamid hydroclorid. Buồn ngủ đã được báo cáo khi dùng quá liều qua đường uống.
Các triệu chứng sau đã được báo cáo khi dùng quá liều qua đường dùng tại chỗ: buồn nôn, chóng mặt, nhức đầu, mệt mỏi, giấc mơ bất thường và khó nuốt.
Điều trị
Nên điều trị triệu chứng và hỗ trợ. Cần theo dõi nồng độ điện giải trong huyết thanh (đặc biệt là kali) và pH máu. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng timolol không được thẩm tách dễ dàng.
Không dùng gấp đôi liều đã bỏ lỡ.
Mọi thông tin chỉ mang tính chất tham khảo. Việc sử dụng thuốc phải tuân theo hướng dẫn của bác sĩ chuyên môn.
Trong một nghiên cứu lâm sàng với Cosopt-S, các tác dụng không mong muốn quan sát thấy phù hợp với các tác dụng không mong muốn đã được báo cáo trước đây với Cosopt (công thức có chất bảo quản), dorzolamid hydroclorid và/hoặc timolol maleat.
Trong các nghiên cứu lâm sàng, đã có 1035 bệnh nhân được điều trị bằng Cosopt (công thức có chất bảo quản). Khoảng 2,4% bệnh nhân ngưng điều trị với Cosopt (công thức có chất bảo quản) do tác dụng không mong muốn tại mắt; khoảng 1,2% bệnh nhân ngưng điều trị do tác dụng không mong muốn tại mắt gợi ý phản ứng dị ứng hoặc quá mẫn (như viêm mí mắt và viêm kết mạc).
Cosopt-S cho thấy hồ sơ an toàn tương tự Cosopt (công thức chứa chất bảo quản) trong một nghiên cứu so sánh, mù đôi, đa liều.
Cũng giống như các thuốc nhỏ mắt khác, timolol được hấp thu vào tuần hoàn toàn thân. Điều này có thể gây ra các tác dụng không mong muốn tương tự như các tác dụng gặp khi sử dụng thuốc chẹn beta đường toàn thân. Tỷ lệ mắc các tác dụng không mong muốn toàn thân sau khi nhỏ mắt thấp hơn so với khi dùng đường toàn thân.
Các tác dụng không mong muốn sau đây đã được báo cáo với Cosopt-S hoặc với một trong các thành phần của thuốc trong các thử nghiệm lâm sàng hoặc trong giai đoạn hậu mãi:
[Rất phổ biến: (≥ 1/10); Phổ biến: (≥ 1/100, < 1/10); Không phổ biến: (≥ 1/1000, < 1/100); Hiếm gặp: (≥ 1/10.000, < 1/1000); Không biết (không thể ước tính từ dữ liệu hiện có)]
Xem bảng tờ hướng dẫn sử dụng thuốc.
Những tác dụng không mong muốn này cũng được quan sát thấy với Cosopt (công thức có chất bảo quản) trong quá trình hậu mãi.
** Những tác dụng không mong muốn khác đã được quan sát thấy với các thuốc nhãn khoa chẹn beta và có khả năng xảy ra với Cosopt-S.
Thông báo ngay cho bác sỹ hoặc dược sỹ những phản ứng có hại gặp phải khi sử dụng thuốc.
Chống chỉ định Cosopt-S ở những bệnh nhân có:
Những chống chỉ định trên dựa trên các thành phần và không phải là riêng cho chế phẩm kết hợp.
Tim mạch/Các phản ứng đường hô hấp
Giống như các thuốc nhỏ mắt khác, timolol được hấp thu toàn thân. Do thành phần timolol là thuốc chẹn beta-adrenergic, có thể xảy ra các tác dụng không mong muốn trên tim mạch, phổi và các tác dụng không mong muốn khác giống như quan sát thấy với các thuốc chẹn beta-adrenergic dùng đường toàn thân.
Tỷ lệ mắc các tác dụng không mong muốn toàn thân sau khi sử dụng thuốc nhỏ mắt thấp hơn so với sau khi sử dụng đường toàn thân. Để giảm hấp thu toàn thân, xin xem mục Liều dùng và cách dùng.
Rối loạn tim
Ở những bệnh nhân bị bệnh tim mạch (như bệnh mạch vành, đau thắt ngực kiểu Prinzmetal và suy tim) và hạ huyết áp, việc điều trị với các thuốc chẹn beta nên được đánh giá cẩn trọng và nên cân nhắc điều trị với các hoạt chất khác.
Bệnh nhân mắc các bệnh tim mạch nên được theo dõi các dấu hiệu xấu đi của những bệnh này và các tác dụng không mong muốn.
Do ảnh hưởng xấu đến thời gian dẫn truyền, các thuốc chẹn beta chỉ nên được dùng thận trọng cho những bệnh nhân bị block tim độ 1.
Rối loạn mạch
Thận trọng khi điều trị cho những bệnh nhân bị xáo trộn/rối loạn tuần hoàn ngoại vi nặng (như các dạng nặng của bệnh Raynaud hoặc hội chứng Raynaud).
Rối loạn hô hấp
Các phản ứng đường hô hấp, kể cả tử vong do co thắt phế quản ở những bệnh nhân hen, đã được báo cáo sau khi dùng một số thuốc nhãn khoa chẹn beta.
Thận trọng khi sử dụng Cosopt-S ở những bệnh nhân bị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) nhẹ/vừa và chỉ sử dụng khi lợi ích mong đợi vượt trội nguy cơ tiềm ẩn.
Suy gan
Thuốc này chưa được nghiên cứu ở những bệnh nhân bị suy gan và do đó nên được sử dụng thận trọng ở những bệnh nhân này.
Miễn dịch và quá mẫn cảm
Giống như các thuốc nhỏ mắt khác, thuốc này có thể được hấp thu toàn thân.
Dorzolamid chứa một nhóm sulfonamid giống như ở các thuốc sulfonamid khác. Do đó, các tác dụng không mong muốn cùng loại xảy ra với các sulfonamid dùng đường toàn thân có thể xảy ra khi dùng tại chỗ, kể cả các phản ứng nặng như hội chứng Stevens-Johnson và hoại tử thượng bì nhiễm độc.
Nếu xảy ra các dấu hiệu của phản ứng nghiêm trọng hoặc quá mẫn cảm, hãy ngừng sử dụng sản phẩm này.
Các tác dụng không mong muốn ở mắt, tương tự như các tác dụng không mong muốn đã được quan sát thấy với thuốc nhỏ mắt dorzolamid hydroclorid, cũng đã được thấy với thuốc này. Nếu các phản ứng này xảy ra, nên cân nhắc việc ngưng sử dụng Cosopt-S.
Trong khi dùng các thuốc chẹn beta, những bệnh nhân có tiền sử dị ứng dị nguyên hoặc phản ứng phản vệ nặng với một số dị nguyên có thể có phản ứng mạnh hơn với thử thách lặp lại với các dị nguyên này và có thể không đáp ứng với liều adrenalin thông thường dùng để điều trị các phản ứng phản vệ.
Điều trị đồng thời
Hiệu quả trên áp lực nội nhãn hoặc những hiệu quả đã biết của thuốc chẹn beta toàn thân có thể được tăng lên khi timolol được dùng cho những bệnh nhân đang sử dụng một thuốc chẹn beta toàn thân.
Đáp ứng của những bệnh nhân này nên được theo dõi chặt chẽ. Không khuyến cáo việc sử dụng hai thuốc chẹn beta-adrenergic tại chỗ (xin xem mục Tương tác thuốc và tương kỵ).
Thận trọng khi dùng đồng thời timolol maleat với dung dịch nhỏ mắt omidenepag isopropyl (xin xem mục Tương tác thuốc và tương kỵ).
Việc sử dụng dorzolamid và các thuốc ức chế carbonic anhydrase đường uống không được khuyến cáo.
Ngừng trị liệu
Như với các thuốc chẹn beta toàn thân, nếu việc ngưng dùng thuốc nhỏ mắt timolol là cần thiết ở những bệnh nhân có bệnh mạch vành, trị liệu nên được ngưng dần dần.
Các ảnh hưởng thêm của thuốc chẹn beta
Hạ đường huyết/bệnh đái tháo đường
Thận trọng khi dùng các thuốc chẹn beta cho những bệnh nhân hạ đường huyết tự phát hoặc bị bệnh đái tháo đường không ổn định do các thuốc chẹn beta có thể che giấu các dấu hiệu và triệu chứng của hạ đường huyết cấp tính.
Các thuốc chẹn beta cũng có thể che giấu các dấu hiệu của bệnh cường giáp. Ngừng điều trị đột ngột các thuốc chẹn beta có thể khiến các triệu chứng trở nên xấu hơn.
Bệnh giác mạc
Các thuốc nhỏ mắt chẹn beta có thể gây khô mắt. Thận trọng khi điều trị cho những bệnh nhân bị bệnh giác mạc.
Gây mê phẫu thuật
Các thuốc nhỏ mắt chẹn beta có thể ức chế các tác dụng chủ vận beta toàn thân như của adrenalin. Nên thông báo cho bác sĩ gây mê khi bệnh nhân dùng timolol.
Trị liệu với các thuốc chẹn beta có thể làm nặng thêm các triệu chứng của bệnh nhược cơ.
Các ảnh hưởng thêm của thuốc ức chế carbonic anhydrase
Trị liệu bằng thuốc ức chế carbonic anhydrase đường uống có liên quan với sỏi niệu như là kết quả của sự rối loạn acid-base, đặc biệt là ở những bệnh nhân có tiền sử sỏi thận.
Mặc dù chưa quan sát thấy rối loạn acid-base với Cosopt (công thức có chất bảo quản), sỏi niệu đã được báo cáo không thường xuyên.
Vì Cosopt-S chứa một chất ức chế carbonic anhydrase dùng tại chỗ mà được hấp thu toàn thân, bệnh nhân có tiền sử sỏi thận có thể tăng nguy cơ sỏi niệu trong khi sử dụng thuốc này.
Thận trọng khác
Việc kiểm soát bệnh nhân glôcôm góc đóng cấp tính đòi hỏi phải có sự can thiệp điều trị ngoài các thuốc hạ nhãn áp. Thuốc này chưa được nghiên cứu ở bệnh nhân bị bệnh glôcôm góc đóng cấp tính.
Phù giác mạc và mất bù giác mạc không hồi phục đã được báo cáo ở những bệnh nhân có khiếm khuyết giác mạc mạn tính tồn tại từ trước và/hoặc có tiền sử phẫu thuật nội nhãn trong khi sử dụng dorzolamid.
Có khả năng tăng phù giác mạc ở những bệnh nhân có số lượng tế bào nội mô thấp. Thận trọng khi kê toa Cosopt-S cho các nhóm bệnh nhân này.
Bong hắc mạc đã được báo cáo với việc điều trị bằng thuốc ức chế thủy dịch (như timolol, acetazolamid) sau phẫu thuật mở bè củng mạc.
Như với việc sử dụng các thuốc chống glôcôm khác, sự đáp ứng với thuốc nhỏ mắt timolol maleat bị giảm sau trị liệu kéo dài đã được báo cáo ở một số bệnh nhân.
Tuy nhiên, trong các nghiên cứu lâm sàng trong đó 164 bệnh nhân đã được theo dõi trong ít nhất ba năm, không có sự khác biệt đáng kể trong áp lực nội nhãn trung bình được quan sát thấy sau giai đoạn ổn định ban đầu.
Sử dụng kính áp tròng
Thuốc này chưa được nghiên cứu trên bệnh nhân đeo kính áp tròng.
Trẻ em
Xin xem mục Dược lực học.
Thai kỳ
Không nên sử dụng Cosopt-S trong suốt thai kỳ.
Dorzolamid
Không có dữ liệu lâm sàng đầy đủ về phơi nhiễm trong thai kỳ. Ở thỏ, dorzolamid gây quái thai ở liều gây độc cho mẹ mang thai (xin xem mục Dữ liệu an toàn tiền lâm sàng).
Timolol
Không có dữ liệu đầy đủ về việc sử dụng timolol ở phụ nữ mang thai. Không nên sử dụng timolol trong thai kỳ trừ khi thật sự cần thiết. Để giảm hấp thu toàn thân, xin xem phần Liều dùng và cách dùng.
Các nghiên cứu dịch tễ học không cho thấy các ảnh hưởng dị tật nhưng cho thấy nguy cơ thai chậm phát triển trong tử cung khi mẹ dùng các thuốc chẹn beta đường uống.
Thêm vào đó, các dấu hiệu và triệu chứng chẹn beta (như chậm nhịp tim, hạ huyết áp, suy hô hấp và hạ đường huyết) đã được quan sát thấy ở trẻ sơ sinh khi các thuốc chẹn beta được dùng cho mẹ cho đến lúc sinh.
Nếu thuốc này được dùng cho đến lúc sinh, trẻ sơ sinh nên được theo dõi cẩn thận trong suốt những ngày đầu mới sinh.
Cho con bú
Không biết dorzolamid có được bài tiết vào sữa mẹ hay không. Sử dụng dorzolamid ở chuột cống cho con bú cho thấy giảm sự tăng cân của chuột con.
Các thuốc chẹn beta được bài tiết vào sữa mẹ. Tuy nhiên, ở liều điều trị của timolol trong thuốc nhỏ mắt, lượng thuốc có trong sữa mẹ có thể không đủ để gây ra các triệu chứng lâm sàng của chẹn beta ở trẻ.
Để giảm sự hấp thu toàn thân, xin xem mục Liều dùng và cách dùng.
Nếu điều trị với Cosopt-S là cần thiết, không khuyến cáo cho con bú.
Chưa có nghiên cứu được thực hiện về ảnh hưởng của thuốc lên khả năng lái xe và vận hành máy móc.
Các tác dụng không mong muốn có thể xảy ra như nhìn mờ có thể ảnh hưởng đến khả năng lái xe và/hoặc vận hành máy móc ở một số bệnh nhân.
Các nghiên cứu tương tác thuốc cụ thể chưa được thực hiện với Cosopt-S.
Trong một nghiên cứu lâm sàng, thuốc này đã được sử dụng đồng thời với các thuốc dùng đường toàn thân sau đây mà không có bằng chứng của các tương tác bất lợi: các thuốc ức chế ACE, thuốc chẹn kênh calci, thuốc lợi tiểu, thuốc chống viêm không steroid kể cả aspirin, và hormon (ví dụ: estrogen, insulin, thyroxin).
Có khả năng có tác dụng hiệp đồng dẫn đến hạ huyết áp và/hoặc nhịp tim chậm đáng kể khi dung dịch nhỏ mắt chẹn beta được dùng đồng thời với các thuốc chẹn kênh calci đường uống, thuốc giảm catecholamin hoặc thuốc chẹn beta-adrenergic, thuốc chống loạn nhịp (bao gồm amiodaron), digitalis glycosid, các thuốc giả phó giao cảm, guanethidin, thuốc gây nghiện và các thuốc ức chế monoamin oxidase (MAO).
Tăng tác dụng chẹn beta toàn thân (ví dụ: giảm nhịp tim, trầm cảm) đã được báo cáo trong quá trình điều trị kết hợp các thuốc ức chế CYP2D6 (ví dụ: quinidin, fluoxetin, paroxetin) và timolol.
Mặc dù một mình Cosopt (công thức có chất bảo quản) có rất ít hoặc không có tác dụng đối với kích thước đồng tử, giãn đồng tử do sử dụng đồng thời các thuốc nhãn khoa chẹn beta và adrenalin (epinephrin) thỉnh thoảng đã được báo cáo.
Thuốc chẹn beta có thể tăng tác dụng hạ đường huyết của thuốc chữa đái tháo đường.
Các thuốc chẹn beta-adrenergic đường uống có thể làm trầm trọng thêm tăng huyết áp dội ngược sau khi ngưng dùng clonidin.
Tần suất gặp các phản ứng bất lợi viêm mắt, kể cả sung huyết kết mạc, tăng lên trong một thử nghiệm lâm sàng dùng đồng thời timolol maleat và dung dịch nhỏ mắt omidenepag isopropyl.
Do đó, thận trọng khi dùng đồng thời timolol maleat với dung dịch nhỏ mắt omidenepag isopropyl.
Tương kỵ
Do không có các nghiên cứu về tính tương kỵ của thuốc, không trộn lẫn thuốc này với các thuốc khác.
Không bảo quản quá 30°C.
Bảo quản trong hộp để tránh ánh sáng.
Cosopt-S nên được sử dụng không quá 1 tháng sau khi mở túi lần đầu. Hủy bỏ lọ đơn liều chưa sử dụng sau thời gian này.
Hủy bỏ lọ đơn liều đã mở ngay lập tức sau lần sử dụng đầu tiên.
:format(webp)/Nguyen_Kim_Thuy_ea92026f36.png)
Dược sĩ Đại học Ngô Kim Thúy
Đã kiểm duyệt nội dung
Tốt nghiệp loại giỏi trường Đại học Y Dược Huế. Từng tham gia nghiên cứu khoa học đề tài về Dược liệu. Nhiều năm kinh nghiệm làm việc trong lĩnh vực Dược phẩm. Hiện đang là giảng viên cho Dược sĩ tại Nhà thuốc Long Châu.
Tốt nghiệp loại giỏi trường Đại học Y Dược Huế. Từng tham gia nghiên cứu khoa học đề tài về Dược liệu. Nhiều năm kinh nghiệm làm việc trong lĩnh vực Dược phẩm. Hiện đang là giảng viên cho Dược sĩ tại Nhà thuốc Long Châu.
Thuốc nhỏ mắt Cosopt-S được chỉ định trong điều trị áp lực nội nhãn (IOP) tăng ở những bệnh nhân bị tăng nhãn áp, glộ côm góc mở, glôcôm giả bong bao hoặc glôcôm góc mở thứ phát khác khi bệnh nhân không đáp ứng đầy đủ với thuốc chẹn beta nhỏ mắt dùng đơn độc.
Mỗi lọ đơn liều Cosopt-S chứa dung dịch vô khuẩn không có chất bảo quản. Cần nhỏ ngay lập tức vào mắt bị bệnh sau khi mở nắp. Vì không thể duy trì sự vô khuẩn sau khi mở, phần thuốc còn lại trong lọ phải được vứt bỏ ngay lập tức sau khi nhỏ, không được giữ lại để dùng cho lần sau nhằm tránh nguy cơ nhiễm trùng mắt.
Sau khi mở túi nhôm lần đầu, các lọ đơn liều Cosopt-S bên trong phải được sử dụng trong vòng 1 tháng. Nếu sau 1 tháng vẫn còn lọ thuốc chưa sử dụng, cần loại bỏ các lọ đó một cách an toàn và mở một túi nhôm mới để tiếp tục quá trình điều trị.
Cosopt-S chống chỉ định tuyệt đối ở những bệnh nhân có bệnh đường hô hấp phản ứng, bao gồm hen phế quản, tiền sử hen phế quản, hoặc bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (COPD) nặng. Thành phần chẹn beta trong thuốc có thể gây co thắt phế quản, dẫn đến các phản ứng hô hấp nghiêm trọng.
Không nên sử dụng Cosopt-S trong suốt thai kỳ trừ khi thật sự cần thiết, vì các thành phần của thuốc có thể gây ảnh hưởng đến thai nhi hoặc trẻ sơ sinh. Đối với phụ nữ cho con bú, nếu việc điều trị bằng thuốc này là cần thiết thì không khuyến cáo cho con bú do thuốc có thể bài tiết vào sữa mẹ.

Hãy sử dụng sản phẩm và trở thành người đầu tiên đánh giá trải nghiệm nha.
:format(webp)/thuoc_nho_mat_cosopt_s_25mg_ml_santen_3_vi_x_20_ong_x_0_2ml_00051538_1_713ca2e5a9.png)
Hỏi đáp (0 bình luận)