Thuốc tiêm Humulin 30/70 KwikPen của Lilly France chứa insulin người, giúp điều hòa chuyển hóa glucose, được chỉ định trong điều trị bệnh nhân đái tháo đường cần insulin để duy trì đường huyết ổn định.
Số đăng ký
Quy cách
Thành phần
Xem tất cả thông tin
Lưu ý: Sản phẩm này chỉ bán khi có chỉ định của bác sĩ, mọi thông tin trên Website chỉ mang tính chất tham khảo.
Thuốc tiêm Humulin 30/70 là gì?
Mặc định
Lớn hơn
Thuốc tiêm Humulin 30/70 KwikPen được chỉ định để điều trị bệnh nhân đái tháo đường cần insulin để duy trì hằng định nội môi glucose.
Nhóm dược lý - điều trị: Insulin và chất tương tự insulin dùng để tiêm, tác dụng trung bình kết hợp với tác dụng nhanh.
Mã ATC: A10A D01.
Humulin 30/70 là hỗn dịch trộn sẵn của insulin tác dụng nhanh và insulin tác dụng trung bình.
Hoạt tính cơ bản của insulin là điều hòa chuyển hóa glucose.
Ngoài ra, insulin còn có một số tác dụng đồng hóa và chống dị hóa trên nhiều loại mô khác nhau. Trong mô cơ, tác dụng này bao gồm tăng tổng hợp glycogen, acid béo, glycerol và protein và hấp thu acid amin, đồng thời làm giảm ly giải glycogen, tân tạo glucose, tạo ceton, ly giải mỡ, dị hóa protein và sản xuất acid amin.
Dược động học của insulin không phản ánh tác dụng chuyển hóa của hormon này. Vì vậy, khi cân nhắc hoạt lực của insulin nên quan sát các biểu đồ biểu diễn sự sử dụng glucose (như đã bàn luận ở trên).
Humulin 30/70 dạng bút tiêm đóng sẵn chỉ phù hợp với tiêm dưới da. Chế phẩm này không được tiêm đường tĩnh mạch.
Nên tiêm dưới da vào phía trên cánh tay, bắp đùi, mông hoặc bụng. Cần luân chuyển vị trí tiêm, sao cho một vị trí tiêm chỉ được nhắc lại sau hơn một tháng để giảm nguy cơ loạn dưỡng mỡ và thoái hóa dạng bột của da (xem mục 5.1 và mục 7).
Cần thận trọng khi tiêm bất kỳ chế phẩm insulin Humulin nào để đảm bảo không được chọc vào mạch máu. Sau khi tiêm, không được xoa bóp nơi tiêm. Phải huấn luyện bệnh nhân sử dụng thành thạo các kỹ thuật tiêm.
Công thức của Humulin hỗn hợp là hỗn hợp trộn sẵn của insulin hòa tan và insulin isophan được tạo ra để tránh cho bệnh nhân phải trộn lẫn các chế phẩm insulin. Chế độ điều trị cho bệnh nhân cần dựa vào nhu cầu chuyển hóa của từng người.
Mỗi hộp có một tờ hướng dẫn bệnh nhân cách tiêm insulin.
Liều lượng được bác sĩ xác định tùy theo nhu cầu của mỗi bệnh nhân.
Bệnh nhân nhi
Không có dữ liệu.
Insulin không có các định nghĩa cụ thể về quá liều, vì nồng độ glucose trong huyết thanh là kết quả của các tương tác phức tạp giữa hàm lượng insulin, nồng độ glucose trong máu và các quá trình chuyển hóa khác. Có thể gặp hạ đường huyết do thừa insulin liên quan với lượng thức ăn đưa vào và sự tiêu hao năng lượng.
Hạ đường huyết có thể dẫn đến lơ đãng, lú lẫn, đánh trống ngực, nhức đầu, đổ mồ hôi và nôn.
Những cơn hạ đường huyết nhẹ sẽ đáp ứng bằng cách nạp glucose hoặc thực phẩm có đường.
Có thể hiệu chỉnh cơn hạ đường huyết nghiêm trọng một cách tương đối bằng cách tiêm bắp hoặc tiêm dưới da glucagon, sau đó ăn uống các chất bột đường sớm ngay khi bệnh nhân hồi phục hoàn toàn. Bệnh nhân nào không đáp ứng được với glucagon thì phải được dùng dung dịch glucose đường tĩnh mạch.
Nếu bệnh nhân bị hôn mê, cần tiêm bắp hoặc tiêm dưới da glucagon. Tuy nhiên, phải tiêm tĩnh mạch dung dịch glucose, khi không có sẵn glucagon hoặc nếu bệnh nhân không đáp ứng với glucagon. Bệnh nhân cần được ăn càng sớm càng tốt ngay khi đã phục hồi ý thức.
Cần ổn định lượng chất bột đường đưa vào hàng ngày và cần theo dõi bởi vì hạ đường huyết có thể xảy ra sau khi hồi phục các biểu hiện lâm sàng.
Không dùng gấp đôi liều bỏ lỡ.
Mọi thông tin chỉ mang tính chất tham khảo. Việc sử dụng thuốc phải tuân theo hướng dẫn của bác sĩ chuyên môn.
Hạ đường huyết là tác dụng không mong muốn thường gặp nhất khi dùng insulin ở bệnh nhân đái tháo đường gặp phải. Hạ đường huyết nghiêm trọng có thể dẫn tới bất tỉnh và tổn thương hợp xuất não, có thể tử vong. Không có số liệu cụ thể về tần suất xuất hiện của hạ đường huyết vì hạ đường huyết là kết quả của cả liều dùng insulin và các yếu tố khác như chế độ ăn của bệnh nhân và chế độ luyện tập.
Dị ứng cục bộ ở bệnh nhân là phổ biến (từ ≥ 1/100 đến < 1/10). Đỏ da, sưng và ngứa có thể xảy ra ở vị trí tiêm insulin. Tình trạng này thường tự khỏi sau vài ngày đến vài tuần. Trong một số trường hợp, tình trạng này có thể do những yếu tố khác ngoài insulin, như các chất kích thích trong các chất làm sạch da hoặc tiêm chưa đúng kỹ thuật.
Dị ứng toàn thân, rất hiếm gặp (< 1/10.000) nhưng có tiềm năng nghiêm trọng hơn, là dị ứng lan tỏa với insulin. Nó có thể gây phát ban toàn thân, thở ngắn, thở khò khè, hạ huyết áp, mạch nhanh hoặc đổ mồ hôi. Những trường hợp dị ứng lan tỏa nặng có thể đe dọa tính mạng.
Trong trường hợp hiếm gặp, nếu có dị ứng nghiêm trọng với Humulin, cần phải điều trị ngay lập tức. Cần phải thay insulin hoặc giải mẫn cảm.
Hiếm xảy ra loạn dưỡng mỡ tại nơi tiêm (từ ≥ 1/1.000 đến < 1/100).
Rối loạn da và mô dưới da: Tần suất “không rõ”: Thoái hóa dạng bột của da.
Loạn dưỡng mỡ và thoái hóa dạng bột của da có thể xảy ra tại chỗ tiêm và làm chậm sự hấp thu insulin tại chỗ. Luân chuyển liên tục các vị trí tiêm trong khu vực da chỉ ra có thể giúp giảm hoặc ngăn ngừa những phản ứng này (Xem mục 5.1).
Đã có báo cáo về các trường hợp phù nhẹ khi điều trị bằng insulin, đặc biệt ở những đối tượng được điều trị tăng cường bằng insulin để cải thiện tình trạng kiểm soát chuyển hóa kém.
Báo cáo về các tác dụng không mong muốn bị nghi ngờ
Báo cáo về các nghi ngờ tác dụng không mong muốn sau khi thuốc lưu hành trên thị trường là rất quan trọng. Điều này cho phép tiếp tục theo dõi cân cân lợi ích/nguy cơ của thuốc. Các cán bộ y tế được yêu cầu phải báo cáo bất kỳ tác dụng không mong muốn bị nghi ngờ cho hệ thống báo cáo quốc gia.
Thuốc tiêm Humulin 30/70 KwikPen chống chỉ định trong các trường hợp sau:
Chuyển bệnh nhân sang loại hoặc nhãn hiệu insulin khác phải có sự giám sát chặt chẽ của thầy thuốc. Những thay đổi về nồng độ, nhãn hiệu (nhà sản xuất), loại (hòa tan, isophan, hỗn hợp), loài (insulin động vật, insulin người, insulin tương tự insulin người) và/hoặc phương pháp sản xuất (DNA tái tổ hợp so với insulin nguồn gốc động vật) có thể dẫn đến việc cần phải thay đổi liều dùng.
Một số bệnh nhân dùng insulin người có thể cần phải thay đổi dạng bào chế mà dạng bào chế mới được áp dụng với các insulin nguồn gốc động vật. Việc phải điều chỉnh liều, có thể đòi hỏi ở ngay liều đầu tiên hoặc trong vài tuần đầu hoặc vài tháng đầu.
Một số ít bệnh nhân có gặp các phản ứng hạ đường huyết sau khi chuyển sang dùng insulin người đã báo cáo rằng những triệu chứng cảnh báo sớm, ít rõ rệt hoặc khác biệt so với những triệu chứng mà họ gặp khi dùng insulin từ động vật trước đó. Những bệnh nhân mà có đường huyết được cải thiện mạnh, ví dụ khi điều trị insulin tăng cường, có thể bị mất một số hoặc tất cả các triệu chứng cảnh báo về hạ đường huyết và do đó cần được căn dặn kỹ càng. Những tình trạng khác khiến cho những triệu chứng cảnh báo sớm về hạ đường huyết khác biệt hoặc ít rõ rệt hơn bao gồm thời gian dài mắc bệnh đái tháo đường, bệnh thần kinh do đái tháo đường hoặc dùng đồng thời với các thuốc như thuốc chẹn beta. Các phản ứng hạ đường huyết và tăng đường huyết không được điều chỉnh có thể gây bất tỉnh, hôn mê hoặc tử vong.
Việc sử dụng không đủ liều hoặc ngừng điều trị, đặc biệt ở người đái tháo đường phụ thuộc insulin có thể dẫn tới tăng đường huyết và nhiễm toan ceton do đái tháo đường, là những tình trạng có khả năng đe dọa tính mạng.
Điều trị với insulin người có thể tạo kháng thể, nhưng chuẩn độ kháng thể sẽ thấp hơn so với điều trị bằng insulin động vật tinh chế.
Nhu cầu insulin có thể thay đổi rõ rệt trong các bệnh về tuyến thượng thận, tuyến yên hoặc giáp trạng và khi có suy gan hoặc suy thận.
Nhu cầu insulin cũng có thể tăng lên khi ốm đau hoặc có rối loạn về cảm xúc.
Có thể cần phải điều chỉnh liều insulin khi bệnh nhân thay đổi mức độ hoạt động thể lực hoặc thay đổi chế độ dinh dưỡng thường ngày.
Bệnh nhân phải được hướng dẫn để thực hiện luân chuyển liên tục vị trí tiêm để giảm nguy cơ phát triển chứng loạn dưỡng mỡ và thoái hóa dạng bột của da. Có thể có nguy cơ chậm hấp thu insulin và mức kiểm soát đường huyết trở nên xấu hơn sau khi tiêm insulin tại các vị trí có phản ứng này. Sự thay đổi đột ngột vị trí tiêm sang vùng không bị ảnh hưởng dẫn đến hạ đường huyết đã được báo cáo. Khuyến cáo theo dõi đường huyết sau khi thay đổi vị trí tiêm, và có thể cân nhắc điều chỉnh liều các thuốc điều trị đái tháo đường.
Phối hợp insulin người với pioglitazon
Đã có báo cáo về các trường hợp suy tim khi sử dụng insulin phối hợp với pioglitazon, đặc biệt ở những bệnh nhân có các yếu tố nguy cơ làm tăng suy tim. Cần lưu ý điều này, nếu cân nhắc điều trị phối hợp insulin người với pioglitazon. Nếu sử dụng phối hợp, bệnh nhân cần được theo dõi các dấu hiệu và triệu chứng của suy tim, tăng cân và phù nề. Cần ngừng dùng pioglitazon nếu xảy ra bất kỳ diễn tiến xấu đi các triệu chứng của bệnh tim.
Để ngăn ngừa các bệnh truyền nhiễm, mỗi bút tiêm chỉ được dùng cho 1 bệnh nhân, kể cả khi đã thay kim tiêm.
Để nâng cao khả năng truy xuất nguồn gốc của các chế phẩm sinh phẩm y tế, phải ghi lại rõ tên và số lô của sản phẩm được dùng.
Mỗi liều thuốc này có chứa ít hơn 1 mmol natri (23 mg), được coi là không chứa natri.
Khả năng tập trung và phản ứng của bệnh nhân có thể bị suy giảm do hậu quả của hạ đường huyết. Điều này có thể gây ra nguy hiểm trong những tình huống mà những khả năng này có tầm quan trọng đặc biệt (ví dụ khi đang lái xe hoặc vận hành máy móc).
Nên khuyên bệnh nhân phải thận trọng để tránh hạ đường huyết trong khi lái xe, điều này đặc biệt quan trọng với người có giảm ý thức hoặc không nhận biết được các dấu hiệu cảnh báo hạ đường huyết hoặc thường có những cơn hạ đường huyết. Cần cân nhắc việc có nên lái xe hay không trong những trường hợp này.
Việc duy trì sự kiểm soát tốt bệnh nhân được điều trị bằng insulin (đái tháo đường phụ thuộc insulin hoặc đái tháo đường thai kỳ) trong suốt thai kỳ là hết sức cần thiết. Nhu cầu insulin thường giảm trong quý đầu của thai kỳ và tăng lên trong các quý 2 và 3. Cần khuyên bệnh nhân đái tháo đường thông báo cho bác sĩ nếu họ đang mang thai hoặc dự định có thai.
Cần theo dõi kỹ đường huyết cũng như sức khỏe chung của bệnh nhân mang thai bị đái tháo đường.
Bệnh nhân đái tháo đường trong thời kỳ cho con bú có thể cần phải điều chỉnh liều insulin và/hoặc chế độ dinh dưỡng.
Một số chế phẩm thuốc được biết là có thể tương tác với chuyển hóa glucose và vì vậy cần tham vấn thầy thuốc khi sử dụng thêm các thuốc khác cùng với insulin người (xem phần Những cảnh báo đặc biệt và thận trọng khi dùng thuốc). Thầy thuốc cần tính đến khả năng tương tác và hỏi kỹ xem bệnh nhân đã và đang dùng thuốc gì.
Nhu cầu insulin có thể tăng lên khi dùng các chất có hoạt tính làm tăng đường huyết, như glucocorticoid, hormon giáp trạng, hormon tăng trưởng, danazol, thuốc kích thích thụ thể beta2 (như ritodrin, salbutamol, terbutalin) và các thiazid.
Nhu cầu insulin cũng có thể giảm khi dùng cùng những thuốc có tác dụng làm hạ đường huyết, như thuốc hạ đường huyết dạng uống (OHA), các salicylat (như acid acetylsalicylic), một số thuốc chống trầm cảm (thuốc ức chế monoamino-oxydase), một số thuốc ức chế men chuyển dạng angiotensin (ACE) (captopril, enalapril), các thuốc chẹn thụ thể angiotensin II, thuốc chẹn beta không chọn lọc và rượu.
Các chất tương tự như somatostatin (như octreotid, lanreotid) có thể làm tăng hoặc giảm nhu cầu insulin.
Tính tương kỵ
Không nên trộn Humulin với các insulin của các nhà sản xuất khác hoặc với các chế phẩm insulin động vật.
Bút tiêm đóng sẵn chưa sử dụng:
Bảo quản trong tủ lạnh (2°C - 8°C). Không làm đông lạnh thuốc. Không để nơi quá nóng hoặc ánh nắng mặt trời chiếu trực tiếp.
Sau khi sử dụng:
Không bảo quản ở nhiệt độ trên 30°C. Không làm đông lạnh thuốc. Không bảo quản lạnh. Không bảo quản bút tiêm chứa ống thuốc nạp còn gắn kim tiêm. Không để nơi quá nóng hoặc ánh nắng mặt trời chiếu trực tiếp.
:format(webp)/Nguyen_Kim_Thuy_ea92026f36.png)
Dược sĩ Đại học Ngô Kim Thúy
Đã kiểm duyệt nội dung
Tốt nghiệp loại giỏi trường Đại học Y Dược Huế. Từng tham gia nghiên cứu khoa học đề tài về Dược liệu. Nhiều năm kinh nghiệm làm việc trong lĩnh vực Dược phẩm. Hiện đang là giảng viên cho Dược sĩ tại Nhà thuốc Long Châu.
Tốt nghiệp loại giỏi trường Đại học Y Dược Huế. Từng tham gia nghiên cứu khoa học đề tài về Dược liệu. Nhiều năm kinh nghiệm làm việc trong lĩnh vực Dược phẩm. Hiện đang là giảng viên cho Dược sĩ tại Nhà thuốc Long Châu.
Dược lực học là nghiên cứu các ảnh hưởng sinh hóa, sinh lý, và phân tử của thuốc trên cơ thể và liên quan đến thụ thể liên kết, hiệu ứng sau thụ thể, và tương tác hóa học. Dược lực học, với dược động học, giúp giải thích mối quan hệ giữa liều và đáp ứng, tức là các tác dụng của thuốc. Đáp ứng dược lý phụ thuộc vào sự liên kết của thuốc với đích tác dụng. Nồng độ thuốc ở vị trí thụ thể ảnh hưởng đến tác dụng của thuốc.
Dược động học là những tác động của cơ thể đối với thuốc trong suốt quá trình thuốc đi vào, ở trong và đi ra khỏi cơ thể- bao gồm các quá trình hấp thụ, sinh khả dụng, phân bố, chuyển hóa, và thải trừ.
Tác dụng phụ là những triệu chứng không mong muốn xảy ra khi chúng ta uống thuốc. Các tác dụng phụ này có thể không nghiêm trọng, chẳng hạn chỉ gây đau đầu hoặc khô miệng. Nhưng cũng có những tác dụng phụ đe dọa tính mạng. Cẩn phòng tránh tác dụng phụ của thuốc như: Thông báo các loại thuốc đang sử dụng với bác sĩ, các bệnh lý nền hiện tại, các tương tác của thuốc đến thực phẩm hằng ngày. Đọc kỹ hướng dẫn sử dụng thuốc và nếu gặp tác dụng phụ cần báo ngay cho bác sĩ.
Sử dụng thuốc đúng cách là uống thuốc theo chỉ dẫn của dược sĩ, bác sĩ. Ngoài ra không dùng nước quả, nước khoáng hoặc các loại nước ngọt đóng hộp có gas để uống thuốc. Không dùng sữa để uống thuốc vì trong thành phần của sữa có chứa canxi. Không dùng cà phê hay nước chè để uống thuốc. Chỉ nên uống cùng nước lọc.
Có các dạng bào chế thuốc như
Theo thể chất:
Theo đường dùng:

Hãy sử dụng sản phẩm và trở thành người đầu tiên đánh giá trải nghiệm nha.
:format(webp)/humulin_30_70_kwikpen_lilly_5_cay_x_3ml_00052475_b155948d09.jpg)
Hỏi đáp (0 bình luận)