Thuốc Pyme Fucan được chỉ định trong điều trị các tình trạng nhiễm nấm Candida và viêm màng não do Cryptococcus ở cả người lớn và trẻ em.
Số đăng ký
Quy cách
Thành phần
Xem tất cả thông tin
Lưu ý: Sản phẩm này chỉ bán khi có chỉ định của bác sĩ, mọi thông tin trên Website chỉ mang tính chất tham khảo.
Thuốc Pyme Fucan 150mg là gì?
Mặc định
Lớn hơn
Thuốc Pyme Fucan được chỉ định dùng cho các tình trạng nhiễm nấm sau đây.
Fluconazole được chỉ định ở người lớn để điều trị:
Fluconazole được chỉ định ở người lớn để dự phòng:
Fluconazole được chỉ định cho trẻ mới sinh đủ tháng, trẻ sơ sinh, trẻ mới biết đi, trẻ em và thanh thiếu niên từ 0 – 17 tuổi: Fluconazole được dùng để điều trị nhiễm Candida niêm mạc (miệng-hầu, thực quản), nhiễm Candida xâm lấn, viêm màng não do Cryptococcus và dự phòng nhiễm Candida ở bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch. Fluconazole có thể được dùng để điều trị duy trì ngăn ngừa tái phát viêm màng não do Cyptococcus ở trẻ em có nguy cơ tái phát cao.
Có thể tiến hành điều trị trước khi biết kết quả của việc nuôi cấy và các kết quả xét nghiệm khác; tuy nhiên, khi có kết quả nên điều chỉnh điều trị chống nhiễm khuẩn cho phù hợp. Nên tham khảo hướng dẫn chính thức về cách dùng thuốc kháng nấm hợp lý.
Nhóm dược lý: Thuốc kháng nấm dùng toàn thân, dẫn xuất triazole, mã ATC: J02AC01.
Cơ chế hoạt động
Fluconazole là một chất kháng nấm triazole. Cơ chế hoạt động chính là ức chế quá trình demethyl hóa 14 alpha-lanosterol qua trung gian cytochrom P-450 của nấm, một bước thiết yếu trong sinh tổng hợp ergosterol của nấm. Sự tích tụ 14 alpha-methyl sterol tương quan với sự mất đi sau đó của ergosterol trong màng tế bào nấm và chịu trách nhiệm về hoạt tính kháng nấm của fluconazole. Fluconazole đã được chứng minh là có tính chọn lọc đối với các enzym cytochrom P-450 của nấm hơn các hệ thống enzym cytochrom P-450 của động vật có vú.
Fluconazole 50 mg mỗi ngày đến 28 ngày đã được chứng minh không ảnh hưởng nồng độ testosterone trong huyết tương ở nam giới hoặc nồng độ steroid ở phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ. Fluconazole 200 mg đến 400 mg mỗi ngày không có ảnh hưởng đáng kể về mặt lâm sàng đối với nồng độ steroid nội sinh hoặc trên phản ứng kích thích ACTH ở tình nguyện viên nam khỏe mạnh. Các nghiên cứu tương tác với antipyrine chỉ ra rằng liều đơn hoặc nhiều liều fluconazole 50 mg không ảnh hưởng đến chuyển hóa của nó.
Tính nhạy cảm trong in vitro
Trong in vitro, fluconazole thể hiện hoạt tính kháng nấm đối với các loài Candida phổ biến trên lâm sàng (bao gồm C. albicans, C. parapsilosis, C. Tropicalis). C. glabrata cho thấy giảm tính nhạy cảm với fluconazole trong khi C. krusei và C. auris đề kháng với fluconazole. MIC và giá trị giới hạn về dịch tễ học (ECOFF) của fluconazole đối với C. guilliermondii cao hơn đối với C. albicans.
Fluconazole cũng thể hiện hoạt tính trong in vitro chống lại Cryptococcus neoformans và Cryptococcus. gattii cũng như các loại nấm mốc đặc hữu Blastomyces dermatiditis, Coccidioides immitis, Histoplasma capsulatum và Paracoccidioides brasiliensis.
Mối quan hệ dược động học/dược lực học
Trong các nghiên cứu trên động vật, có mối tương quan giữa giá trị MIC và hiệu quả chống lại nấm da thực nghiệm do Candida spp. Trong các nghiên cứu lâm sàng, có mối quan hệ tuyến tính gần như 1: 1 giữa AUC và liều fluconazole. Ngoài ra còn có một mối quan hệ trực tiếp mặc dù không hoàn toàn giữa AUC hoặc liều lượng và đáp ứng lâm sàng của bệnh nấm miệng và nấm candida ở mức độ thấp đối với việc điều trị. Tương tự, ít có khả năng chữa khỏi các bệnh nhiễm trùng do các chủng có MIC fluconazole cao hơn.
Các đặc tính dược động học của fluconazole tương tự sau khi dùng đường tĩnh mạch hoặc đường uống.
Hấp thu:
Fluconazole được hấp thu tốt qua đường uống và nồng độ huyết tương (sinh khả dụng toàn thân) đạt được ≥ 90% so với đường tiêm tĩnh mạch. Sự hấp thu đường uống không bị ảnh hưởng bởi thức ăn. Nồng độ đỉnh trong huyết tương ở tình trạng đói đạt được trong vòng 0,5 – 1,5 giờ sau khi uống. Nồng độ thuốc trong huyết tương tỷ lệ với liều dùng. 90% nồng độ ở trạng thái ổn định đạt được vào ngày thứ 4-5 trong phác đồ sử dụng đa liều ngày một lần. Dùng liều tấn công (vào ngày 1) gấp đôi liều thông thường hàng ngày giúp nồng độ thuốc trong huyết tương đạt xấp xỉ 90% so với nồng độ ở trạng thái ổn định vào ngày thứ 2.
Phân bố:
Thể tích phân bố biểu kiến xấp xỉ với tổng lượng nước trong cơ thể. Liên kết với protein huyết tương thấp (11-12%).
Fluconazole có khả năng thấm tốt vào tất cả các dịch cơ thể đã được nghiên cứu. Nồng độ fluconazole trong nước bọt và đờm tương đương với nồng độ trong huyết tương. Ở những bệnh nhân bị viêm màng não do nấm, nồng độ fluconazole trong dịch não tủy đạt được xấp xỉ 80% so với nồng độ tương ứng trong huyết tương.
Nồng độ fluconazole trên da cao đạt được ở lớp sừng, lớp biểu bì-hạ bì và trong mồ hôi cao hơn nồng độ trong huyết thanh. Fluconazole được tích tụ trong lớp sừng của da. Với liều 50 mg x 1 lần/ngày, nồng độ fluconazole sau 12 ngày là 73 µg/g và 7 ngày sau khi ngừng điều trị nồng độ fluconazole vẫn là 5,8 µg/g. Ở liều 150 mg mỗi tuần một lần, nồng độ fluconazole trong lớp sừng vào ngày thứ 7 là 23,4 µg g và 7 ngày sau khi sử dụng liều thứ hai nồng độ trong lớp sừng vẫn là 7,1 µgg.
Nồng độ fluconazole trong móng tay sau 4 tháng dùng 150 mg mỗi tuần một lần là 4,05 µg/g ở người khỏe mạnh và 1,8 µg/g ở mông bị bệnh; và fluconazole vẫn có thể đo được trong các mẫu móng tay 6 tháng sau khi kết thúc điều trị.
Chuyển hóa:
Fluconazole chỉ được chuyển hóa ở mức độ nhỏ. Trong một liều phóng xạ, chỉ có 11% được thải trừ dưới dạng biến đổi trong nước tiểu. Fluconazole là một chất ức chế trung bình các isozyme CYP2C9 và CYP3A4. Fluconazole cũng là chất ức chế mạnh isozyme CYP2C19.
Thải trừ:
Thời gian bán thải trong huyết tương của fluconazole khoảng 30 giờ. Đường thải trừ chủ yếu là thận, gần 80% liều dùng xuất hiện trong nước tiểu dưới dạng không đổi. Độ thanh thải fluconazole tỷ lệ với độ thanh thải creatinin. Không có bằng chứng về chất chuyển hóa tuần hoàn.
Thời gian bán thải kéo dài trong huyết tương cung cấp cơ sở cho liệu pháp liều duy nhất đối với bệnh nấm Candida âm đạo, một lần mỗi ngày và một lần hàng tuần cho các chỉ định khác.
Fluconazole có thể được cho dùng qua đường uống (viên nang) hoặc qua đường tiêm truyền tĩnh mạch (dung dịch để tiêm truyền), đường dùng thuốc phụ thuộc vào tình trạng lâm sàng bệnh nhân. Khi chuyển từ cho dùng thuốc qua tĩnh mạch sang qua đường uống, hoặc ngược lại, không cần thay đổi liều hàng ngày.
Nên nuốt cả viên nang và uống cách xa bữa ăn.
Liều dùng phải dựa trên bản chất và mức độ nhiễm nấm. Khi điều trị những tình trạng nhiễm nấm cần dùng phác đồ đa liều, phải tiếp tục cho đến khi các thông số lâm sàng hoặc xét nghiệm cho thấy tình trạng nhiễm nấm hoạt động đã thuyên giảm. Điều trị không đủ thời gian có thể dẫn đến tái phát nhiễm nấm hoạt động.
Chọn chế phẩm có hàm lượng phù hợp cho từng chỉ định.
Dạng bào chế viên nang không thích hợp cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Sử dụng thuốc dạng hỗn dịch cho đối tượng này.
Người lớn:
| Chỉ định | Liều dùng | Thời gian điều trị | |
|---|---|---|---|
| Nhiễm Cryptococcus | Điều trị viêm màng não do Cryptococcus | Liều tấn công: 100 mg vào ngày 1. Liều tiếp theo: 200 - 400 mg x 1 lần/ngày | Thường ít nhất 6 - 8 tuần. Trong trường hợp nhiễm nấm đe dọa đến tính mạng, liều hàng ngày có thể tăng lên 800 mg. |
| Điều trị duy trì để ngăn ngừa tái phát viêm màng não do Cryptococcus ở bệnh nhân có nguy cơ tái phát cao | 200 mg x 1 lần/ngày | Không thời hạn với liều hàng ngày 200 mg | |
| Nhiễm Coccidioides | 200 - 400 mg x 1 lần/ngày | 11 - 24 tháng hoặc lâu hơn tùy thuộc tình hình bệnh. Liều 800 mg/ngày có thể được xem xét cho một số tình trạng nhiễm nấm, đặc biệt là cho bệnh nhân mắc bệnh nặng. | |
| Nhiễm Candida xâm lấn | Liều tấn công: 800 mg vào ngày 1. Liều tiếp theo: 400 mg x 1 lần/ngày | Nói chung, thời gian điều trị tùy thuộc vào Candida huyết là 2 tuần sau khi cấy máu âm tính và hết các dấu hiệu và triệu chứng. Có thể kéo dài hơn đối với Candida huyết do viêm nội tâm mạc. | |
| Điều trị nhiễm Candida niêm mạc | Nhiễm Candida miệng-hầu | Liều tấn công: 200 - 400 mg vào ngày 1. Liều tiếp theo: 100 - 200 mg x 1 lần/ngày | 7 - 21 ngày (có thể đến khi niêm mạc Candida miệng-hầu trở lại bình thường), có thể kéo dài trong trường hợp suy giảm miễn dịch nặng. |
| Nhiễm Candida thực quản | Liều tấn công: 200 - 400 mg vào ngày 1. Liều tiếp theo: 100 - 200 mg x 1 lần/ngày | 14 - 30 ngày (cho đến khi nhiễm Candida thực quản được điều trị khỏi). Có thể kéo dài trong thời gian điều trị cho bệnh nhân bị suy giảm chức năng miễn dịch. | |
| Nhiễm Candida niệu | 200 - 400 mg x 1 lần/ngày | 7 - 21 ngày. Điều trị trong thời gian dài hơn cho bệnh nhân bị suy giảm chức năng miễn dịch nghiêm trọng. | |
| Nhiễm Candida gây tổn thương niêm tính | 50 mg x 1 lần/ngày | 14 ngày | |
| Nhiễm Candida da-niêm mạc mãn tính | 50 - 100 mg x 1 lần/ngày | Lên đến 28 ngày. Thời gian dài hơn tùy thuộc vào mức độ nhiễm nấm hoặc tình trạng suy giảm miễn dịch và đáp ứng của bệnh nhân. | |
| Phòng ngừa phát triển nhiễm Candida niêm mạc ở bệnh nhân HIV có nguy cơ cao tái phát | Nhiễm Candida miệng-hầu | 100 - 200 mg x 1 lần/ngày hoặc 200 mg x 3 lần/tuần | Không thời hạn cho bệnh nhân bị ức chế miễn dịch mạnh |
| Nhiễm Candida thực quản | 100 - 200 mg x 1 lần/ngày hoặc 200 mg x 3 lần/tuần hoặc 200 mg x 1 lần/ngày | Không thời hạn cho bệnh nhân bị ức chế miễn dịch mạnh | |
| Nhiễm Candida âm đạo cấp tính do Candida | Nhiễm Candida âm đạo cấp tính do Candida | 150 mg | Liều duy nhất |
| Điều trị và phòng ngừa Candida âm đạo tái phát (có 4 đợt trở lên/năm) | 150 mg 3 ngày 1 lần, tổng cộng 3 liều (ngày 1, ngày 4 và ngày 7), tiếp theo 150 mg mỗi tuần một lần | Liều duy trì: 6 tháng | |
| Nhiễm nấm da | Nhiễm chân, nấm bàn chân, nấm bẹn | 150 - 300 mg x 1 lần/tuần hoặc 50 mg x 1 lần/ngày | 2 - 4 tuần; nấm chân có thể cần điều trị lên đến 6 tuần |
| Lang ben | 300 - 400 mg x 1 lần/tuần hoặc 50 mg x 1 lần/ngày | 1 - 3 tuần | |
| Nấm móng | 150 mg x 1 lần/tuần | Điều trị tiếp tục cho đến khi móng bị nhiễm được thay thế hoàn toàn bởi móng khỏe mạnh. Quá trình này có thể mất từ 3 đến 6 tháng đối với móng tay và 6 đến 12 tháng đối với móng chân. Tốc độ mọc móng có thể rất khác nhau giữa các cá thể. Sau khi điều trị, móng có thể vẫn mềm trong một thời gian dài và móng tay bình thường có thể bị ảnh hưởng. | |
| Dự phòng nhiễm Candida ở bệnh nhân bị giảm bạch cầu trung tính kéo dài | 200 - 400 mg x 1 lần/ngày | Điều trị nên bắt đầu ngay trước ngày dự kiến giảm bạch cầu hạt (khi số lượng bạch cầu trung tính dự kiến giảm xuống dưới 500 tế bào/mm³) và tiếp tục trong 7 ngày sau khi số lượng bạch cầu trung tính tăng lên trên 1000 tế bào/mm³. |
Đối tượng đặc biệt
Người cao tuổi:
Liều dùng nên được điều chỉnh dựa trên chức năng thận (tham khảo bảng liều cho bệnh nhân suy thận dưới đây).
Suy thận:
Fluconazole chủ yếu được bài tiết trong nước tiểu dưới dạng hoạt chất không đổi. Không cần chỉnh liều trong trường hợp dùng liều duy nhất. Ở bệnh nhân (bao gồm cả nhóm bệnh nhân nhi) bị suy chức năng thận sẽ dùng fluconazole đa liều, nên cho dùng liều khởi đầu 50 – 400 mg, dựa trên liều khuyến cáo hàng ngày của chỉ định. Sau liều tấn công ban đầu này, liều hàng ngày (theo chỉ định) nên dựa trên bảng sau đây:
| Độ thanh thải creatinin (ml/phút) | Phần trăm liều dùng khuyến cáo |
|---|---|
| > 50 | 100% |
| ≤ 50 (không thẩm tách máu) | 50% |
| Thẩm tách máu | 100% sau mỗi lần thẩm tách máu |
Bệnh nhân được thẩm tách máu nên được cho dùng 100% liều dùng khuyến cáo sau mỗi lần thẩm tách máu; vào những ngày không thẩm tách máu, bệnh nhân nên được giảm liều tùy theo độ thanh thải creatinin.
Suy gan:
Dữ liệu hạn chế ở bệnh nhân suy gan, do đó nên thận trọng khi dùng fluconazole ở bệnh nhân bị rối loạn chức năng gan.
Nhóm bệnh nhân nhi:
Không được vượt quá liều tối đa 400 mg mỗi ngày ở nhóm bệnh nhân nhi.
Cũng như các tình trạng nhiễm khuẩn tương tự ở người lớn, thời gian điều trị dựa trên đáp ứng lâm sàng và nấm học. Fluconazole được dùng như 1 liều đơn hàng ngày.
Với bệnh nhân nhi bị suy giảm chức năng thận, xem mục liều dùng cho bệnh nhân suy thận. Dược động học của fluconazole chưa được nghiên cứu trong nhóm bệnh nhân nhi bị suy thận (với “trẻ mới sinh đủ tháng” thường có biểu hiện chủ yếu là chức năng thận chưa phát triển đầy đủ, xem bên dưới).
Trẻ sơ sinh, trẻ mới biết đi và trẻ em (từ 28 ngày tuổi đến 11 tuổi):
| Chỉ định | Liều dùng | Khuyến cáo |
|---|---|---|
| Nhiễm Candida niêm mạc | Liều khởi đầu: 6 mg/kgLiều tiếp theo: 3 mg/kg x 1 lần/ngày | Có thể dùng liều khởi đầu vào ngày đầu tiên để đạt được nồng độ ổn định nhanh hơn |
| Nhiễm Candida xâm lấn do Candida hoặc Cryptococcus | 6 - 12 mg/kg x 1 lần/ngày | Tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của bệnh |
| Điều trị duy trì để ngăn ngừa viêm màng não do Cryptococcus tái phát ở trẻ em có nguy cơ tái phát cao | 6 mg/kg x 1 lần/ngày | Tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của bệnh |
| Dự phòng nhiễm Candida ở trẻ em bị suy giảm miễn dịch | 3 - 12 mg/kg x 1 lần/ngày | Tùy thuộc vào mức độ và thời gian giảm bạch cầu trung tính. Liều tối đa 12 mg/kg/ngày (không vượt quá liều dùng cho người lớn) |
Thanh thiếu niên (từ 12 – 17 tuổi):
Tùy thuộc vào cân nặng và sự phát triển dậy thì, người kê toa sẽ cần đánh giá xem liều dùng nào (người lớn hoặc trẻ em) là thích hợp nhất. Dữ liệu lâm sàng cho thấy, trẻ em có độ thanh thải fluconazole cao hơn so với độ thanh thải quan sát được ở người lớn. Để có được nồng độ toàn thân tương đương, một liều 100, 200, 400 mg ở người lớn lần lượt tương ứng với liều 3, 6, 12 mg/kg ở trẻ em.
Tính an toàn và hiệu quả cho chỉ định điều trị nhiễm Candida sinh dục ở nhóm bệnh nhân nhi chưa được thiết lập. Dữ liệu an toàn hiện có cho các chỉ định trên bệnh nhân nhi khác được mô tả trong mục Tác dụng không mong muốn của thuốc. Nếu điều trị nhiễm Candida sinh dục là bắt buộc ở thanh thiếu niên (từ 12 đến 17 tuổi) thì liều dùng cần phải tương tự như liều dùng ở người lớn.
Trẻ sơ sinh đủ tháng (từ 0 – 27 ngày tuổi): Trẻ sơ sinh bài tiết fluconazole chậm. Có rất ít dữ liệu về dược động học để hỗ trợ liều dùng này ở trẻ mới sinh đủ tháng (xem mục Đặc tính dược động học).
| Nhóm tuổi | Liều dùng | Khuyến cáo |
|---|---|---|
| Trẻ mới sinh đủ tháng (0 - 14 ngày tuổi) | Liều mg/kg tương tự cho trẻ sơ sinh, trẻ mới sinh và trẻ em nên được cho dùng mỗi 72 giờ | Không nên dùng quá liều tối đa 12 mg/kg mỗi 72 giờ |
| Trẻ mới sinh đủ tháng (15 - 27 ngày tuổi) | Liều mg/kg tương tự cho trẻ sơ sinh, trẻ mới sinh và trẻ em nên được cho dùng mỗi 48 giờ | Không nên dùng quá liều tố |
Đã có báo cáo quá liều đối với fluconazole. Ảo giác và hành vi hoang tưởng đã được báo cáo đồng thời.
Trong trường hợp quá liều, có thể điều trị triệu chứng (cùng với các biện pháp hỗ trợ và rửa dạ dày nếu cần).
Fluconazole được bài tiết phần lớn qua nước tiểu; tăng lợi tiểu có thể sẽ làm tăng tốc độ đào thải. Thẩm tách máu trong 3 giờ làm giảm nồng độ huyết tương của fluconazole khoảng 50%.
Không dùng gấp đôi liều bỏ lỡ.
Mọi thông tin chỉ mang tính chất tham khảo. Việc sử dụng thuốc phải tuân theo hướng dẫn của bác sĩ chuyên môn.
Hội chứng phát ban do thuốc kèm tăng bạch cầu ái toan và triệu chứng toàn thân (DRESS) đã được báo cáo liên quan đến điều trị với fluconazole.
Các tác dụng không mong muốn thường gặp nhất (≥ 1/100 đến < 1/10) là đau đầu, đau bụng, tiêu chảy, buồn nôn, nôn, tăng alanine aminotransferase, tăng aspartate aminotransferase, tăng phosphatase kiềm trong máu và phát ban.
Các tác dụng không mong muốn sau đây đã được quan sát và báo cáo trong quá trình điều trị với fluconazole theo các tần số sau: Rất thường gặp (≥ 1/10); thường gặp (≥ 1/100 đến < 1/10); ít gặp (≥ 1/1.000 đến < 1/100); hiếm gặp (≥ 1/10.000 đến < 1/1.000); rất hiếm gặp (< 1/10.000); chưa rõ (không thể ước tính từ dữ liệu sẵn có).
Rối loạn hệ máu và bạch huyết:
Rối loạn hệ miễn dịch:
Rối loạn chuyển hóa và dinh dưỡng:
Rối loạn tâm thần:
Rối loạn hệ thần kinh:
Rối loạn tai và tai trong:
Rối loạn tim:
Rối loạn hệ tiêu hóa:
Rối loạn hệ gan mật:
Rối loạn da và mô dưới da:
Rối loạn cơ xương và mô liên kết:
Rối loạn chung và tại chỗ:
Trẻ em
Mô hình và tỷ lệ mắc phải tác dụng không mong muốn và các bất thường trong phòng thí nghiệm được ghi nhận trong các thử nghiệm lâm sàng ở trẻ em, ngoại trừ chỉ định nhiễm nấm Candida ở bộ phận sinh dục, có thể tương tự với các tác dụng không mong muốn gặp phải ở người lớn.
Thông báo ngay cho bác sĩ hoặc dược sĩ những phản ứng có hại gặp phải khi sử dụng thuốc.
Thuốc Pyme Fucan chống chỉ định trong các trường hợp:
Nấm da đầu
Fluconazole đã được nghiên cứu để điều trị nấm da đầu ở trẻ em. Fluconazole đã được chứng minh là không vượt trội so với griseofulvin và tỷ lệ thành công ít hơn 20%. Do đó, fluconazole không nên sử dụng cho nấm da đầu.
Cryptococcosis
Bằng chứng về hiệu quả của fluconazole trong điều trị cryptococcosis ở các vị trí khác (ví dụ như cryptococcosis phổi và da) bị giới hạn, nên hạn chế dùng thuốc.
Bệnh nấm đặc hữu sâu
Bằng chứng về hiệu quả của fluconazole trong điều trị các dạng khác của bệnh nấm đặc hữu như paracoccidioidomycosis, sporotrichosis lymphocutrial và histoplasmosis bị hạn chế, nên hạn chế dùng thuốc.
Cơ quan thận
Fluconazole nên được dùng thận trọng cho bệnh nhân rối loạn chức năng thận.
Suy thượng thận
Ketoconazole được biết là gây ra suy thượng thận, và điều này cũng có thể (mặc dù hiếm) xảy ra với fluconazole. Suy thượng thận liên quan đến điều trị đồng thời với prednisone.
Hệ thống gan mật
Fluconazole nên được dùng thận trọng cho bệnh nhân rối loạn chức năng gan.
Fluconazole có liên quan đến các trường hợp nhiễm độc gan nghiêm trọng hiếm gặp bao gồm tử vong, chủ yếu ở những bệnh nhân mắc các bệnh nghiêm trọng tiềm ẩn. Trong trường hợp fluconazole liên quan đến nhiễm độc gan, không có mối quan hệ rõ ràng nào với tổng liều hàng ngày, thời gian điều trị, giới tính hoặc độ tuổi của bệnh nhân đã được theo dõi. Nhiễm độc gan do fluconazole thường có thể hồi phục khi ngừng điều trị.
Bệnh nhân có các xét nghiệm chức năng gan bất thường trong khi điều trị bằng fluconazole phải được theo dõi chặt chẽ về sự tiến triển tổn thương gan nghiêm trọng hơn.
Bệnh nhân cần được cảnh báo các triệu chứng gợi ý về sự ảnh hưởng nghiêm trọng đến gan (suy nhược, chán ăn, buồn nôn kéo dài, nôn và vàng da). Khi đó, cần ngừng điều trị với fluconazole ngay lập tức và nên tham khảo ý kiến bác sĩ.
Hệ tim mạch
Một số azole, bao gồm fluconazole, có liên quan đến việc kéo dài khoảng QT trên điện tâm đồ. Fluconazole gây kéo khoảng QT thông qua sự ức chế dòng kali chỉnh lưu. Sự kéo dài khoảng QT gây ra bởi các thuốc khác (như amiodarone) có thể được tăng cường thông qua sự ức chế cytochrom P450 (CYP) 3A4. Trong quá trình theo dõi sau khi lưu hành, có rất ít trường hợp kéo dài khoảng QT và xoắn đỉnh ở những bệnh nhân dùng fluconazole. Những báo cáo này gồm những bệnh nhân bệnh nặng với nhiều yếu tố nguy cơ gây nhiễu, như bệnh tim cấu trúc, bất thường điện giải và liệu pháp điều trị phối hợp. Bệnh nhân bị hạ kali máu và suy tim tiến triển có nguy cơ cao xuất hiện rối loạn nhịp thất đe dọa tính mạng và xoắn đỉnh.
Fluconazole nên được dùng thận trọng cho bệnh nhân tiềm ẩn tình trạng tiền loạn nhịp.
Chống chỉ định dùng đồng thời các thuốc kéo dài khoảng QT và được chuyển hóa qua cytochrom P450 (CYP) 3A4.
Halofantrine
Halofantrine đã được chứng minh là kéo dài khoảng QTc ở liều điều trị được khuyến cáo và là cơ chất của CYP3A4. Do đó, không nên sử dụng đồng thời fluconazole và halofantrine.
Phản ứng da
Bệnh nhân hiếm khi gặp các phản ứng ngoài da, như hội chứng Stevens-Johnson và hoại tử biểu bì nhiễm độc, trong quá trình điều trị bằng fluconazole. Hội chứng phát ban do thuốc kèm tăng bạch cầu ái toan và triệu chứng toàn thân (DRESS) đã được ghi nhận. Bệnh nhân AIDS dễ bị mắc phải các phản ứng da nghiêm trọng đối với nhiều thuốc. Nếu phát ban, được coi là do fluconazole, xảy ra ở một bệnh nhân được điều trị nhiễm nấm bề mặt, nên ngừng điều trị với thuốc này. Nếu bệnh nhân bị nhiễm nấm xâm lấn/hệ thống biểu lộ phát ban, cần được theo dõi chặt chẽ và ngừng sử dụng.
Đã có báo cáo hiếm gặp các trường hợp sốc phản vệ.
Cytochrom P450
Fluconazole là một chất ức chế CYP2C9 và CYP3A4 trung bình. Fluconazole cũng là một chất ức chế mạnh CYP2C19. Bệnh nhân được điều trị bằng fluconazole nên được theo dõi khi điều trị đồng thời với các thuốc có giới hạn trị liệu hẹp được chuyển hóa qua CYP2C9, CYP2C19 và CYP3A4.
Terfenadine
Cần theo dõi chặt chẽ khi dùng đồng thời fluconazole ở liều thấp hơn 400 mg/ngày với terfenadine.
Nấm Candida
Các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nhiễm các loài Candida trừ C. albicans ngày càng gia tăng. Những loài này thường đã đề kháng (ví dụ C. krusei và C. auris) hoặc cho thấy giảm tính nhạy cảm với fluconazole (C. glabrata). Những trường hợp nhiễm các loài này có thể cần điều trị với liệu pháp kháng nấm thay thế sau khi điều trị thất bại. Do đó, người kê đơn nên xem xét tỷ lệ kháng fluconazole ở các loài Candida khác nhau.
Tá dược lactose
Thuốc này có chứa lactose monohydrate. Bệnh nhân có vấn đề di truyền hiếm gặp về không dung nạp galactose, thiếu hụt Lapp lactase hoặc kém hấp thu glucose-galactose không nên dùng thuốc này.
Chưa có nghiên cứu về ảnh hưởng của fluconazole lên khả năng lái xe và vận hành máy móc.
Bệnh nhân nên được cảnh báo về nguy cơ chóng mặt hoặc co giật khi dùng fluconazole và không nên lái xe hoặc vận hành máy móc nếu có bất kỳ triệu chứng này.
Một nghiên cứu quan sát đã gợi ý tăng nguy cơ sẩy thai tự nhiên ở phụ nữ được điều trị fluconazole trong 3 tháng đầu thai kỳ.
Dữ liệu từ vài nghìn phụ nữ mang thai được điều trị với liều tích lũy ≤ 150 mg fluconazole, được dùng trong ba tháng đầu, cho thấy không tăng nguy cơ dị tật tổng thể ở thai nhi. Trong một nghiên cứu đoàn hệ quan sát lớn, việc phơi nhiễm trong ba tháng đầu thai kỳ với fluconazole đường uống có liên quan đến tăng nhẹ nguy cơ dị tật cơ xương, tỷ lệ khoảng 1/1000 phụ nữ được điều trị với liều tích lũy ≤ 450 mg so với phụ nữ được điều trị bằng azoles tại chỗ và khoảng 4/1000 phụ nữ được điều trị với liều tích lũy trên 450 mg. Nguy cơ tương đối được điều chỉnh là 1,29 (95% CI 1,05 đến 1,58) đối với fluconazole 150 mg đường uống và 1,98 (95% CI 1,23 đến 3,17) đối với liều fluconazole trên 450 mg.
Đã có báo cáo về các bất thường bẩm sinh (bao gồm tật não, loạn sản tai, thóp trước khổng lồ, cung xương đùi và bao hoạt dịch màng phổi) ở trẻ sơ sinh có mẹ được điều trị ít nhất ba tháng trở lên với liều cao fluconazole (400 - 800 mg mỗi ngày) đối với bệnh coccidioidomycosis. Mối quan hệ giữa việc sử dụng fluconazole và những bất thường này không rõ ràng.
Các nghiên cứu trên động vật cho thấy độc tính sinh sản.
Fluconazole với liều dùng tiêu chuẩn và điều trị ngắn hạn không nên được sử dụng trong thời kỳ mang thai trừ khi thật sự cần thiết.
Không nên dùng fluconazole liều cao và/hoặc trong phác đồ kéo dài trong thời kỳ mang thai ngoại trừ những trường hợp nhiễm trùng đe dọa tính mạng.
Fluconazole đi vào sữa mẹ để đạt được nồng độ tương tự như trong huyết tương. Có thể duy trì việc cho con bú sau khi dùng liều duy nhất 150 mg fluconazole. Không khuyến cáo cho con bú sau khi sử dụng lặp lại hoặc sau khi dùng fluconazole liều cao. Các lợi ích về sự phát triển và sức khỏe của việc nuôi con bằng sữa mẹ cần được xem xét cùng với nhu cầu lâm sàng điều trị bằng fluconazole của người mẹ và bất kỳ tác dụng bất lợi nào lên trẻ được nuôi bằng sữa mẹ từ fluconazole hoặc từ các tình trạng có sẵn của người mẹ.
Chống chỉ định khi sử dụng đồng thời với các thuốc sau:
Cisapride: Đã có báo cáo về các trường hợp liên quan đến tim bao gồm xoắn đỉnh ở những bệnh nhân sử dụng đồng thời fluconazole và cisapride. Một nghiên cứu có kiểm soát cho thấy dùng đồng thời fluconazole 200 mg 1 lần/ngày và cisaprid 20 mg 4 lần/ngày có thể làm tăng đáng kể nồng độ cisapride trong huyết tương và kéo dài khoảng QTc. Chống chỉ định điều trị đồng thời fluconazole và cisapride.
Terfenadine: Do nguy cơ kéo dài khoảng QT gây ra loạn nhịp nghiêm trọng ở những bệnh nhân sử dụng đồng thời thuốc kháng nấm azole với terfenadine. Một nghiên cứu với fluconazole liều 200 mg hàng ngày không chứng mình tác dụng kéo dài khoảng QTc. Một nghiên cứu khác với fluconazole liều 400 mg và 800 mg hàng ngày đã chứng minh fluconazole liều 400 mg mỗi ngày hoặc cao hơn làm tăng đáng kể nồng độ terfenadine trong huyết tương khi dùng đồng thời. Chống chỉ định phối hợp fluconazole liều ≥ 400 mg với terfenadine. Cần theo dõi cẩn thận khi phối hợp fluconazole liều < 400 mg với terfenadine.
Astemizole: Dùng đồng thời fluconazole với astemizole có thể làm giảm độ thanh thải của astemizole. Kết quả là nồng độ astemizole trong huyết tương tăng lên có thể dẫn đến kéo dài QT và hiếm khi xảy ra xoắn đỉnh.
Pimozide: Mặc dù chưa được nghiên cứu in vitro hoặc in vivo, việc dùng đồng thời fluconazole với pimozide có thể dẫn đến ức chế chuyển hóa pimozide. Nồng độ pimozide trong huyết tương tăng có thể dẫn đến kéo dài QT và hiếm khi xảy ra xoắn đỉnh. Do đó, chống chỉ định dùng đồng thời fluconazole và pimozide.
Quinidine: Mặc dù chưa được nghiên cứu in vitro hoặc in vivo, nhưng việc dùng đồng thời fluconazole với quinidine có thể dẫn đến ức chế chuyển hóa quinidine. Dùng quinidine có liên quan đến kéo dài QT và hiếm khi xảy ra xoắn đỉnh. Do đó, chống chỉ định dùng đồng thời fluconazole và quinidine.
Erythromycin: Sử dụng đồng thời fluconazole và erythromycin có khả năng làm tăng nguy cơ nhiễm độc tim (kéo dài khoảng QT, xoắn đỉnh) và đột tử do tim. Chống chỉ định dùng đồng thời fluconazole và erythromycin.
Không khuyến cáo sử dụng đồng thời với các thuốc sau:
Halofantrine: Fluconazole có thể làm tăng nồng độ halofantrine trong huyết tương do tác dụng ức chế CYP3A4. Sử dụng đồng thời fluconazole và halofantrine có thể làm tăng nguy cơ nhiễm độc tim (kéo dài khoảng QT, xoắn đỉnh) và đột tử do tim. Do đó, nên tránh dùng phối hợp hai thuốc này.
Thận trọng khi sử dụng đồng thời với các thuốc sau:
Amiodarone: Sử dụng đồng thời fluconazole với amiodarone có thể làm tăng kéo dài QT. Cần thận trọng nếu sử dụng đồng thời fluconazole và amiodarone, đặc biệt khi dùng fluconazole liều cao (800 mg).
Sử dụng đồng thời các thuốc sau cần được để phòng và điều chỉnh liều:
Ảnh hưởng của các thuốc khác lên fluconazole:
Rifampicin: Dùng đồng thời fluconazole và rifampicin làm giảm 25% AUC và 20% thời gian bán thải fluconazole. Vì vậy, ở những bệnh nhân dùng đồng thời rifampicin, cần tăng liều fluconazole.
Các nghiên cứu tương tác đã chỉ ra rằng khi fluconazole dùng đường uống kết hợp với thức ăn, cimetidine, thuốc kháng acid hoặc sau khi chiếu xạ toàn bộ cơ thể để ghép tủy xương, không làm giảm đáng kể lâm sàng đối với sự hấp thu fluconazole.
Hydrochlorothiazide: Trong một nghiên cứu tương tác dược động học, việc dùng đồng thời hydrochlorothiazide đa liều cho những người tình nguyện khỏe mạnh đang dùng fluconazole làm tăng 40% nồng độ fluconazole trong huyết tương. Ảnh hưởng này không cần thiết phải thay đổi liều fluconazole ở những đối tượng dùng đồng thời thuốc lợi tiểu.
Ảnh hưởng của fluconazole lên các thuốc khác:
Fluconazole là một chất ức chế trung bình cytochrom P450 (CYP) isoenzyme 2C9 và 3A4. Fluconazole cũng là một chất ức chế mạnh isozyme CYP2C19. Ngoài các tương tác được quan sát/ghi nhận bên dưới, nguy cơ tăng nồng độ trong huyết tương của các chất được chuyển hóa bởi CYP2C9, CYP2C19 và CYP3A4 khi dùng phối hợp với fluconazole. Do đó, cần thận trọng khi dùng phối hợp và bệnh nhân cần được theo dõi cẩn thận. Tác dụng ức chế enzyme của fluconazole tồn tại 4 - 5 ngày sau khi ngừng điều trị fluconazole do fluconazole có thời gian bán thải dài.
(Và các tương tác chi tiết khác được liệt kê trong tờ HDSD).
Dưới 30°C. Tránh ẩm và ánh sáng.
:format(webp)/Nguyen_Kim_Thuy_ea92026f36.png)
Dược sĩ Đại học Ngô Kim Thúy
Đã kiểm duyệt nội dung
Tốt nghiệp loại giỏi trường Đại học Y Dược Huế. Từng tham gia nghiên cứu khoa học đề tài về Dược liệu. Nhiều năm kinh nghiệm làm việc trong lĩnh vực Dược phẩm. Hiện đang là giảng viên cho Dược sĩ tại Nhà thuốc Long Châu.
Tốt nghiệp loại giỏi trường Đại học Y Dược Huế. Từng tham gia nghiên cứu khoa học đề tài về Dược liệu. Nhiều năm kinh nghiệm làm việc trong lĩnh vực Dược phẩm. Hiện đang là giảng viên cho Dược sĩ tại Nhà thuốc Long Châu.
Nhóm dược lý: Thuốc kháng nấm dùng toàn thân, dẫn xuất triazole, mã ATC: J02AC01.
Thuốc này có chứa lactose monohydrate. Bệnh nhân có vấn đề di truyền hiếm gặp về không dung nạp galactose, thiếu hụt Lapp lactase hoặc kém hấp thu glucose-galactose không nên dùng thuốc này.
Fluconazole có thể được cho dùng qua đường uống (viên nang) hoặc qua đường tiêm truyền tĩnh mạch (dung dịch để tiêm truyền), đường dùng thuốc phụ thuộc vào tình trạng lâm sàng bệnh nhân. Khi chuyển từ cho dùng thuốc qua tĩnh mạch sang qua đường uống, hoặc ngược lại, không cần thay đổi liều hàng ngày.
Nên nuốt cả viên nang và uống cách xa bữa ăn.
Dạng bào chế viên nang không thích hợp cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Sử dụng thuốc dạng hỗn dịch cho đối tượng này.
Đối với bệnh nhân có vấn đề về gan, cần theo dõi chặt chẽ chức năng gan. Việc sử dụng thuốc trong các trường hợp này phải tuân theo chỉ định và sự giám sát của bác sĩ.

Hãy sử dụng sản phẩm và trở thành người đầu tiên đánh giá trải nghiệm nha.
Lọc theo:
Mai Huỳnh Khánh UyênDược sĩ
Chào chị Phương
Hiện tại, sản phẩm Thuốc Pyme Fucan Pymepharco điều trị nhiễm nấm Candida (1 Vỉ x 1 viên) có giá 10,200đ/viên ạ
Anh/Chị/Quý khách có thể gửi yêu cầu Tư vấn ngay trên website hoặc tại ứng dụng Long Châu / ZALO OA Nhà thuốc FPT Long Châu để hưởng ưu đãi miễn phí vận chuyển khi đặt giao tại nhà ạ
Hữu ích
Trả lời:format(webp)/pyme_fucan_150mg_pymepharco_1x1_00053353_1_4eb693d6c0.jpg)
chị phương
Hữu ích
Trả lời