• Thực phẩm chức năng

  • Dược mỹ phẩm

  • Thuốc

  • Chăm sóc cá nhân

  • Thiết bị y tế

  • Tiêm chủng

  • Bệnh & Góc sức khỏe

  • Hệ thống nhà thuốc

    1. /
    2. Thuốc/
    3. Thuốc tim mạch & máu/
    4. Thuốc chống đông máu
    Thuốc Rivacryst 15Mg Dự Phòng Huyết Khối, Giảm Nguy Cơ Đột Quỵ  ( 1 Vỉ X 14 Viên)
    Thuốc Rivacryst 15Mg Dự Phòng Huyết Khối, Giảm Nguy Cơ Đột Quỵ  ( 1 Vỉ X 14 Viên)
    Thuốc Rivacryst 15Mg Dự Phòng Huyết Khối, Giảm Nguy Cơ Đột Quỵ  ( 1 Vỉ X 14 Viên)
    Thuốc Rivacryst 15Mg Dự Phòng Huyết Khối, Giảm Nguy Cơ Đột Quỵ  ( 1 Vỉ X 14 Viên)
    Thuốc Rivacryst 15Mg Dự Phòng Huyết Khối, Giảm Nguy Cơ Đột Quỵ  ( 1 Vỉ X 14 Viên)
    Thuốc Rivacryst 15Mg Dự Phòng Huyết Khối, Giảm Nguy Cơ Đột Quỵ  ( 1 Vỉ X 14 Viên)
    Thuốc Rivacryst 15Mg Dự Phòng Huyết Khối, Giảm Nguy Cơ Đột Quỵ  ( 1 Vỉ X 14 Viên)
    Thuốc Rivacryst 15Mg Dự Phòng Huyết Khối, Giảm Nguy Cơ Đột Quỵ  ( 1 Vỉ X 14 Viên)
    Thuốc Rivacryst 15Mg Dự Phòng Huyết Khối, Giảm Nguy Cơ Đột Quỵ  ( 1 Vỉ X 14 Viên)
    Thuốc Rivacryst 15Mg Dự Phòng Huyết Khối, Giảm Nguy Cơ Đột Quỵ  ( 1 Vỉ X 14 Viên)
    Thuốc Rivacryst 15Mg Dự Phòng Huyết Khối, Giảm Nguy Cơ Đột Quỵ  ( 1 Vỉ X 14 Viên)
    Thuốc Rivacryst 15Mg Dự Phòng Huyết Khối, Giảm Nguy Cơ Đột Quỵ  ( 1 Vỉ X 14 Viên)
    Thuốc Rivacryst 15Mg Dự Phòng Huyết Khối, Giảm Nguy Cơ Đột Quỵ  ( 1 Vỉ X 14 Viên)
    Thuốc Rivacryst 15Mg Dự Phòng Huyết Khối, Giảm Nguy Cơ Đột Quỵ  ( 1 Vỉ X 14 Viên)
    Thuốc Rivacryst 15Mg Dự Phòng Huyết Khối, Giảm Nguy Cơ Đột Quỵ  ( 1 Vỉ X 14 Viên)
    Thuốc Rivacryst 15Mg Dự Phòng Huyết Khối, Giảm Nguy Cơ Đột Quỵ  ( 1 Vỉ X 14 Viên)
    Thuốc Rivacryst 15Mg Dự Phòng Huyết Khối, Giảm Nguy Cơ Đột Quỵ  ( 1 Vỉ X 14 Viên)
    Thuốc Rivacryst 15Mg Dự Phòng Huyết Khối, Giảm Nguy Cơ Đột Quỵ  ( 1 Vỉ X 14 Viên)
    Thuốc Rivacryst 15Mg Dự Phòng Huyết Khối, Giảm Nguy Cơ Đột Quỵ  ( 1 Vỉ X 14 Viên)
    Thuốc Rivacryst 15Mg Dự Phòng Huyết Khối, Giảm Nguy Cơ Đột Quỵ  ( 1 Vỉ X 14 Viên)
    Thuốc Rivacryst 15Mg Dự Phòng Huyết Khối, Giảm Nguy Cơ Đột Quỵ  ( 1 Vỉ X 14 Viên)
    Thuốc Rivacryst 15Mg Dự Phòng Huyết Khối, Giảm Nguy Cơ Đột Quỵ  ( 1 Vỉ X 14 Viên)
    Thuốc Rivacryst 15Mg Dự Phòng Huyết Khối, Giảm Nguy Cơ Đột Quỵ  ( 1 Vỉ X 14 Viên)
    Thuốc Rivacryst 15Mg Dự Phòng Huyết Khối, Giảm Nguy Cơ Đột Quỵ  ( 1 Vỉ X 14 Viên)
    Thuốc Rivacryst 15Mg Dự Phòng Huyết Khối, Giảm Nguy Cơ Đột Quỵ  ( 1 Vỉ X 14 Viên)
    Thuốc Rivacryst 15Mg Dự Phòng Huyết Khối, Giảm Nguy Cơ Đột Quỵ  ( 1 Vỉ X 14 Viên)
    Thuốc Rivacryst 15Mg Dự Phòng Huyết Khối, Giảm Nguy Cơ Đột Quỵ  ( 1 Vỉ X 14 Viên)
    Thuốc Rivacryst 15Mg Dự Phòng Huyết Khối, Giảm Nguy Cơ Đột Quỵ  ( 1 Vỉ X 14 Viên)
    Thuốc Rivacryst 15Mg Dự Phòng Huyết Khối, Giảm Nguy Cơ Đột Quỵ  ( 1 Vỉ X 14 Viên)
    Thuốc Rivacryst 15Mg Dự Phòng Huyết Khối, Giảm Nguy Cơ Đột Quỵ  ( 1 Vỉ X 14 Viên)
    Thuốc Rivacryst 15Mg Dự Phòng Huyết Khối, Giảm Nguy Cơ Đột Quỵ  ( 1 Vỉ X 14 Viên)
    Thuốc Rivacryst 15Mg Dự Phòng Huyết Khối, Giảm Nguy Cơ Đột Quỵ  ( 1 Vỉ X 14 Viên)
    Thuốc Rivacryst 15Mg Dự Phòng Huyết Khối, Giảm Nguy Cơ Đột Quỵ  ( 1 Vỉ X 14 Viên)
    Thuốc Rivacryst 15Mg Dự Phòng Huyết Khối, Giảm Nguy Cơ Đột Quỵ  ( 1 Vỉ X 14 Viên)
    Thuốc Rivacryst 15Mg Dự Phòng Huyết Khối, Giảm Nguy Cơ Đột Quỵ  ( 1 Vỉ X 14 Viên)
    Thuốc Rivacryst 15Mg Dự Phòng Huyết Khối, Giảm Nguy Cơ Đột Quỵ  ( 1 Vỉ X 14 Viên)
    Thuốc Rivacryst 15Mg Dự Phòng Huyết Khối, Giảm Nguy Cơ Đột Quỵ  ( 1 Vỉ X 14 Viên)
    Thuốc Rivacryst 15Mg Dự Phòng Huyết Khối, Giảm Nguy Cơ Đột Quỵ  ( 1 Vỉ X 14 Viên)
    Thuốc Rivacryst 15Mg Dự Phòng Huyết Khối, Giảm Nguy Cơ Đột Quỵ  ( 1 Vỉ X 14 Viên)
    Thuốc Rivacryst 15Mg Dự Phòng Huyết Khối, Giảm Nguy Cơ Đột Quỵ  ( 1 Vỉ X 14 Viên)
    Thuốc Rivacryst 15Mg Dự Phòng Huyết Khối, Giảm Nguy Cơ Đột Quỵ  ( 1 Vỉ X 14 Viên)
    Thuốc Rivacryst 15Mg Dự Phòng Huyết Khối, Giảm Nguy Cơ Đột Quỵ  ( 1 Vỉ X 14 Viên)

    Mẫu mã sản phẩm có thể thay đổi theo lô hàng

    Hoa Kỳ
    Thương hiệu: Abbott

    Thuốc Rivacryst 15Mg Dự Phòng Huyết Khối, Giảm Nguy Cơ Đột Quỵ ( 1 Vỉ X 14 Viên)

    000502660 đánh giá0 bình luận
    Sản phẩm cần tư vấn từ dược sĩ.
    Sản phẩm cần tư vấn từ dược sĩ.

    Số đăng ký

    858110959224

    Dạng bào chế

    Viên nén bao phim

    Quy cách

    Hộp 1 Vỉ x 14 Viên

    Thành phần

    Nhà sản xuất

    Saneca Pharmaceuticals A.S

    Nước sản xuất

    Slovakia

    Thuốc cần kê toa

    Mô tả ngắn

    Thuốc Rivacryst 15 mg là sản phẩm của Saneca Pharmaceuticals A.S, có thành phần chính là Rivaroxaban. Đây là thuốc được sử dụng để phòng ngừa đột quỵ và thuyên tắc mạch ở người lớn bị rung nhĩ không do bệnh van tim, điều trị và phòng ngừa tái phát huyết khối tĩnh mạch sâu, thuyên tắc phổi ở người lớn, đồng thời điều trị và ngăn ngừa tái phát huyết khối tĩnh mạch ở trẻ em và thanh thiếu niên đủ điều kiện sau giai đoạn khởi trị chống đông đường tiêm.

    Hạn sử dụng

    36 tháng

    Lưu ý

    Sản phẩm này chỉ bán khi có chỉ định của bác sĩ, mọi thông tin trên Website chỉ mang tính chất tham khảo.

    Thuốc Rivacryst 15mg là gì?

    Kích thước chữ

    • Mặc định

    • Lớn hơn

    Thành phần của Thuốc Rivacryst 15mg

    Thành phần cho 1 viên

    Thông tin thành phần

    Hàm lượng

    Rivaroxaban

    15mg

    Công dụng của Thuốc Rivacryst 15mg

    Chỉ định

    Thuốc Rivacryst 15 mg được chỉ định dùng trong các trường hợp sau:

    Người lớn

    Phòng ngừa đột quỵ và thuyên tắc mạch toàn thân ở bệnh nhân người lớn bị rung nhĩ không do bệnh lý van tim với một hoặc nhiều yếu tố nguy cơ như suy tim sung huyết, tăng huyết áp, tuổi ≥ 75, đái tháo đường, tiền đột quy hoặc cơn thiếu máu não thoáng qua.

    Điều trị huyết khối tĩnh mạch sâu (DVT) và thuyên tắc phổi (PE), và phòng ngừa tái phát DVT và PE ở người lớn.

    Trẻ em

    Điều trị huyết khối tĩnh mạch (VTE) và ngăn ngừa tái phát VTE ở trẻ em và thanh thiếu niên dưới 18 tuổi và cân nặng từ 30kg đến 50kg sau ít nhất 5 ngày kể từ ngày khởi đầu điều trị thuốc chống đông máu qua đường tiêm.

    Dược lực học

    Nhóm dược lý: Thuốc chống huyết khối, thuốc ức chế yếu tố Xa trực tiếp,

    Mã ATC: B01AF01

    Cơ chế tác dụng

    Rivaroxaban là một chất ức chế có tính chọn lọc cao yếu tố Xa với sinh khả dụng qua đường uống.

    Sự ức chế yếu tố Xa làm gián đoạn đường nội sinh và ngoại sinh của dòng đông máu, ức chế cả sự hình thành thrombin và sự phát triển của huyết khối. Rivaroxaban đã được chứng minh là không ức chế thrombin (yếu tố II hoạt hóa) và không có tác dụng trên tiểu cầu.

    Tác dụng dược lực học

    Ứ'c chế hoạt động yếu tố Xa phụ thuộc vào liều đã được ghi nhận trên người. Thời gian prothrombin (PT) bị ảnh hưởng bởi rivaroxaban theo cách phụ thuộc vào liều lượng có mối tương quan chặt chẽ gần với nồng độ trong huyết tương (giá trị r bằng 0,98) nếu sử dụng Neoplastin để định lượng. Các thuốc thử khác sẽ cho các kết quả khác nhau.

    Kết quả PT được biểu thị theo giây, bởi chỉ số INR được định chuẩn và có giá trị cho coumarin và không được sử dụng cho bất kỳ thuốc chống đông máu nào khác.

    Trong một nghiên cứu dược lý học lâm sàng về sự đảo ngược dược lực học của rivaroxaban ở đối tượng người lớn khỏe mạnh (n = 22), ảnh hưởng của liều đơn (50 IU/kg) của hai loại PCC khác nhau, PCC 3 yếu tố (Yếu tố II, IX và X) và PCC 4 yếu tố (Yếu tố II, VII, IX và X) được đánh giá. PCC gồm 3 yếu tố làm giảm giá trị Neoplastin PT trung bình khoảng 1,0 giây trong vòng 30 phút, so với mức giảm khoảng 3,5 giây được quan sát với PCC 4 yếu tố. Ngược lại, PCC 3 yếu tố có hiệu quả chung mạnh và nhanh hơn trên thay đổi đảo ngược ở nhóm thrombin nội sinh so với PCC 4 yếu tố.

    Thời gian thomboplastin được hoạt hóa từng phần (aPTT) và HepTest cũng bị kéo dài tùy thuộc vào liều dùng; tuy nhiên không khuyến cáo sử dụng các chỉ số này để đánh giá tác dụng dược lực học của rivaroxaban. Không cần theo dõi các thông số đông máu trong quá trình điều trị bằng rivaroxaban theo quy trình lâm sàng. Tuy nhiên, khi có chỉ định lâm sàng, đo hiệu quả của rivaroxaban có thể được tiến hành bằng thử nghiệm đo nồng độ kháng Xa.

    Ở những bệnh nhân dùng rivaroxaban để điều trị DVT và PE và ngăn ngừa tái phát, phân vị 5/95 đối với PT (Neoplastin) 2 - 4 giờ sau khi uống thuốc (tức là thời điểm có thuốc đạt tác dụng tối đa) đối với 15 mg rivaroxaban hai lần mỗi ngày dao động từ 17 đến 32 giây và cho 20 mg rivaroxaban một lần mỗi ngày từ 15 đến 30 giây. Tại thời điểm bắt đầu (8 - 16 giờ sau khi uống thuốc), phân vị 5/95 cho 15 mg hai lần mỗi ngày dao động từ 14 đến 24 giây và cho 20 mg một lần mỗi ngày (18 - 30 giờ sau khi uống thuốc) từ 13 đến 20 giây.

    Ở những bệnh nhân bị rung nhĩ không do van tim dùng rivaroxaban để phòng ngừa đột quỵ và thuyên tắc hệ thống, phân vị 5/95 cho PT (Neoplastin) 1 - 4 giờ sau khi uống thuốc (tức là thời điểm có thuốc đạt tác dụng tối đa) ở những bệnh nhân được điều trị bằng 20 mg ngày một lần dao động từ 14 đến 40 giây và ở bệnh nhân suy thận trung bình được điều trị với 15 mg x 1 lần/ngày từ 10 đến 50 giây. Ở mức tối đa (16 - 36 giờ sau khi uống thuốc), phân vị 5/95 ở bệnh nhân được điều trị với 20 mg một lần mỗi ngày dao động từ 12 đến 26 giây và ở những bệnh nhân suy thận trung bình được điều trị với 15 mg một lần mỗi ngày từ 12 đến 26 giây.

    Bệnh nhân nhi

    Xét nghiệm PT (thuốc thử neoplastin), aPTT và anti-Xa (với xét nghiệm định lượng đã hiệu chuẩn) cho thấy mối tương quan chặt chẽ với nồng độ trong huyết tương ở trẻ em.

    Mối tương quan giữa nồng độ kháng Xa và huyết tương là tuyến tính với độ dốc gần bằng 1. Có thể xảy ra sự khác biệt giữa từng cá thể với giá trị kháng Xa cao hơn hoặc thấp hơn so với nồng độ tương ứng trong huyết tương. Không cần theo dõi thường xuyên các thông số đông máu trong quá trình điều trị lâm sàng bằng rivaroxaban. Tuy nhiên, nếu được chỉ định lâm sàng, nồng độ rivaroxaban có thể được đo bằng các xét nghiệm định lượng kháng yếu tố Xa tính bằng mcg/L. Giới hạn định lượng dưới phải được xem xét khi xét nghiệm anti-Xa được sử dụng để định lượng nồng độ rivaroxaban trong huyết tương ở trẻ em. Không có ngưỡng nào được thiết lập cho các biến cố về hiệu quả hoặc an toàn.

    Hiệu quả lâm sàng và an toàn

    Vui lòng xem thêm các thông tin về "Hiệu quả lâm sàng và an toàn" trong tờ hướng dẫn sử dụng thuốc đính kèm sản phẩm.

    Dược động học

    Hấp thu

    Thông tin sau đây dựa trên dữ liệu thu được ở người lớn

    Rivaroxaban được hấp thu nhanh chóng với nồng độ tối đa (Cmax) đạt sau 2 - 4 giờ uống thuốc.

    Rivaroxaban hấp thu gần như hoàn toàn qua đường uống và sinh khả dụng đường uống cao (80 - 100%) đối với liều viên 10 mg, bất kể uống thuốc tính trạng đói/ no. Uống rivaroxaban cùng với thức ăn không ảnh hưởng đến AUC hoặc Cmax ở liều 10 mg.

    Do mức độ hấp thu bị giảm, sinh khả dụng qua đường uống viên 20 mg uống lúc đói chỉ đạt 66%. Khi uống viên rivaroxaban 20 mg cùng với thức ăn, làm tăng AUC trung bình 39% so với khi uống thuốc lúc đói, cho thấy sự hấp thu gần như hoàn toàn và sinh khả dụng đường uống cao. Rivaroxaban 15 mg và 20 mg được dùng cùng với thức ăn.

    Dược động học của rivaroxaban gần như tuyến tính khi dùng liều khoảng 15 mg x 1 lần/ngày. Ở liều cao hơn, rivaroxaban cho thấy sự hấp thu hạn chế khi hòa tan với sinh khả dụng giảm và tỷ lệ hấp thu giảm khi tăng liều. Điều này được thể hiện rõ hơn ở trạng thái đói so với trạng thái no.

    Sự biến thiên dược động học của rivaroxaban là vừa phải với sự biến thiên giữa các cá thể (CV%) nằm trong khoảng từ 30% đến 40%, ngoại trừ vào ngày phẫu thuật và sau ngày phẫu thuật khi mức độ thay đổi về phơi nhiễm cao (70%).

    Sự hấp thu của rivaroxaban phụ thuộc vào vị trí giải phóng trong đường tiêu hóa. AUC và Cmax giảm 29% và 56% so với dạng viên nén đã được báo cáo khi rivaroxaban được giải phóng ở đoạn gần ruột non. Phơi nhiễm với thuốc giảm hơn nữa khi rivaroxaban được giải phóng ở ruột non đoạn cuối, hoặc đại tràng lên. Do đó, nên tránh sử dụng rivaroxaban qua đường dạ dày vì điều này có thể làm giảm hấp thu và liên quan đến phơi nhiễm với rivaroxaban.

    Khả dụng sinh học (AUC và Cmax) có thể so sánh được với rivaroxaban 20 mg dùng đường uống dưới dạng viên nén nghiền nát trộn với nước táo xay nhuyễn hoặc dịch treo trong nước và dùng qua ống thông dạ dày sau bữa ăn lỏng, so với uống cả nguyên viên nén.

    Với đặc điểm dược lực học tỉ lệ thuận với liều lượng của rivaroxaban, kết quả sinh khả dụng từ nghiên cứu này có thể áp dụng cho các liều rivaroxaban thấp hơn.

    Bệnh nhân nhi

    Trẻ em được dùng rivaroxaban dạng viên hoặc hỗn dịch uống trong hoặc ngay sau khi cho ăn hoặc ăn cùng với một lượng chất lỏng thông thường để đảm bảo liều lượng đáng tin cậy ở trẻ em. Giống như ở người lớn, rivaroxaban được hấp thu dễ dàng sau khi uống dưới dạng viên nén hoặc hạt để tạo thành hỗn dịch uống ở trẻ em. Không có sự khác biệt về tốc độ hấp thu cũng như mức độ hấp thu giữa viên nén và hạt đối với công thức hỗn dịch uống. Không có dữ liệu dược động học sau khi tiêm tĩnh mạch cho trẻ em nên chưa rõ sinh khả dụng tuyệt đối của rivaroxaban ở trẻ em. Người ta nhận thấy có sự giảm sinh khả dụng tương đối khi tăng liều (tính bằng mg/kg thể trọng), cho thấy sự hạn chế hấp thu ở liều cao hơn, ngay cả khi dùng cùng với thức ăn. Nên uống viên Rivaroxaban 15 mg trong lúc ăn hoặc cùng với thức ăn.

    Phân bố

    Gắn kết với protein huyết tương ở người cao khoảng 92% đến 95%, với albumin huyết thanh là thành phần liên kết chính. Thể tích phân bố trung bình với Vss là khoảng 50 lít.

    Bệnh nhân nhi

    Không có dữ liệu về sự gắn kết đặc hiệu với protein huyết tương của rivaroxaban đối với trẻ em. Không có dữ liệu dược động học sau khi dùng rivaroxaban tiêm tĩnh mạch cho trẻ em. Vss được ước tính thông qua mô hình dược động học nhóm trẻ em (độ tuổi từ 0 đến < 18 tuổi) sau khi uống rivaroxaban phụ thuộc vào trọng lượng cơ thể và có thể được mô tả bằng hàm sinh trắc học, với trung bình là 113 L đối với đối tượng có trọng lượng cơ thể là 82,8kg.

    Chuyển hóa và thải trừ

    Trong số liều rivaroxaban uống vào có khoảng 2/3 liều bị thoái biến theo chuyển hóa, một nửa sau đó được thải trừ qua thận và nửa còn lại thải trừ theo đường phân. 1/3 liều dùng còn lại được bài tiết trực tiếp qua thận dưới dạng hoạt chất không đổi trong nước tiểu, chủ yếu qua bài tiết chủ động ở thận.

    Rivaroxaban được chuyển hóa qua các cơ chế CYP3A4, CYP2J2 và cơ chế không phụ thuộc CYP. Sự phân hủy oxy hóa của gốc morphin và sự thủy phân của các liên kết amide là các vị trí chủ yếu của sự biến đổi sinh học. Dựa trên các nghiên cứu in vitro, rivaroxaban là một chất nền của các protein vận chuyển P-gp (P-glycoprotein) và Bcrp (breast cancer resistance protein - protein kháng ung thư vú).

    Rivaroxaban ở dạng không đổi là hợp chất quan trọng nhất trong huyết tương người với sự có mặt của các chất chuyển hóa không quan trọng hoặc có hoạt tính đang lưu hành. Độ thanh thải toàn phần của rivaroxaban là khoảng 10 L/h, được xếp vào nhóm thuốc có độ thanh thải thấp. Sau khi tiêm tĩnh mạch liều 1 mg, thời gian bán thải khoảng 4,5 giờ. Sau khi dùng đường uống, tốc độ đào thải trở nên hạn chế. Sự thải trừ rivaroxaban khỏi huyết tương xảy ra với thời gian bán thải khoảng 5 - 9 giờ ở người trẻ tuổi và khoảng 11 - 13 giờ ở người cao tuổi.

    Bệnh nhân nhi

    Không có dữ liệu trao đổi chất cụ thể cho trẻ em. Không có dữ liệu dược động học sau khi tiêm tĩnh mạch rivaroxaban cho trẻ em. CL được ước tính thông qua mô hình dược động học nhóm trẻ em (độ tuổi từ 0 đến < 18 tuổi) sau khi uống rivaroxaban phụ thuộc vào trọng lượng cơ thể và có thể được mô tả bằng hàm sinh trắc học, với trung bình là 8 L/h đối với đối tượng có trọng lượng cơ thể là 82,8kg. Các giá trị trung bình hình học của thời gian bán hủy (t1/2) được ước tính thông qua mô hình dược động học nhóm giảm theo độ tuổi giảm và dao động từ 4,2 giờ ở thanh thiếu niên đến khoảng 3 giờ ở trẻ em độ tuổi 2-12 tuổi xuống tương ứng còn 1,9 và 1,6 giờ ở trẻ em trong độ tuổi 0,5 đến < 2 tuổi và dưới 0,5 tuổi.

    Các nhóm bệnh nhân đặc biệt

    Theo giới tính

    Ở người lớn, không có sự khác biệt có liên quan về mặt lâm sàng về dược động học và dược lực học giữa bệnh nhân nam và nữ. Một phân tích thăm dò không cho thấy sự khác biệt có liên quan về nồng độ rivaroxaban giữa trẻ nam và trẻ nữ.

    Người cao tuổi

    Bệnh nhân cao tuổi có nồng độ thuốc trong huyết tương cao hơn so với bệnh nhân trẻ tuổi, với giá trị AUC trung bình cao hơn khoảng 1,5 lần, chủ yếu là do độ thanh thải toàn phần và độ thanh thải qua thận giảm (rõ ràng). Không cần điều chỉnh liều.

    Các loại trọng lượng cơ thể khác nhau

    Ở người lớn, trọng lượng cơ thể <50 kg hoặc > 120 kg chỉ ảnh hưởng nhỏ đến nồng độ rivaroxaban trong huyết tương (dưới 25%).

    Không cần điều chỉnh liều.

    Ở trẻ em, rivaroxaban được định liều dựa trên trọng lượng cơ thể. Một phân tích thăm dò không cho thấy tác động liên quan của tình trạng thiếu cân hoặc béo phì đối với việc tiếp xúc với rivaroxaban ở trẻ em.

    Sự khác biệt giữa các dân tộc

    Không quan sát thấy sự khác biệt giữa các sắc tộc có liên quan về mặt lâm sàng giữa các bệnh nhân Da trắng, Mỹ gốc Phi, Tây Ban Nha, Nhật Bản hoặc Trung Quốc về dược động học và dược lực học của rivaroxaban.

    Một phân tích thăm dò không cho thấy sự khác biệt liên quan giữa các dân tộc về mức độ tiếp xúc với rivaroxaban ở trẻ em Nhật Bản, Trung Quốc hoặc châu Á bên ngoài Nhật Bản và Trung Quốc so với tổng thể trẻ em tương ứng.

    Suy gan

    Bệnh nhân xơ gan với mức độ suy gan nhẹ (được phân loại là Child Pugh A) dược động học của rivaroxaban chỉ thay đổi nhỏ (trung bình AUC tăng 1,2 lần), gần như tương đương với mức đạt của nhóm đối chứng khỏe mạnh. Ở những bệnh nhân xơ gan với mức độ suy gan trung bình (được phân loại là Child Pugh B), AUC trung bình của rivaroxaban đã tăng lên đáng kể gấp 2,3 lần so với những người tình nguyện khỏe mạnh. AUC không gắn kết đã tăng gấp 2,6 lần. Những bệnh nhân này cũng bị giảm đào thải rivaroxaban qua thận, tương tự như những bệnh nhân suy thận mức độ trung bình. Không có dữ liệu ở bệnh nhân suy gan nặng.

    Sự ức chế hoạt động của hệ số Xa tăng gấp 2,6 ở bệnh nhân suy gan trung bình so với người tình nguyện khỏe mạnh; sự kéo dài thời gian PT tương tự tăng gấp 2,1. Bệnh nhân suy gan trung bình nhạy cảm hơn với rivaroxaban dẫn đến mối quan hệ PK/ PD giữa nồng độ và PT cao hơn.

    Rivaroxaban được chống chỉ định ở những bệnh nhân bị bệnh gan liên quan đến rối loạn đông máu và nguy cơ chảy máu liên quan đến lâm sàng, bao gồm cả bệnh nhân xơ gan Child Pugh B và C.

    Không có dữ liệu lâm sàng ở trẻ em bị suy gan.

    Suy thận

    Sự phơi nhiễm rivaroxaban tăng lên ngược lại với sự giảm chức năng thận được đánh giá qua độ thanh thải creatinin. Ở những người bị suy thận nhẹ (độ thanh thải creatinin là 50 - 80 ml/phút), trung bình (độ thanh thải creatinin là 30 - 49 ml/phút) và nặng (độ thanh thải creatinin là 15 - 29 ml/phút), nồng độ rivaroxaban trong huyết tương (AUC) đều tăng tương ứng 1,4, 1,5 và 1,6 lần. Sự gia tăng tương ứng về tác dụng dược lực học đã rõ ràng hơn. Ở những người suy thận nhẹ, trung bình và nặng, sự ức chế tổng thể hoạt động của hệ số Xa tăng lên lần lượt là 1,5, 1,9 và 2,0 so với những người tình nguyện khỏe mạnh; thời gian kéo dài của PT cũng tăng tương ứng với hệ số 1,3, 2,2 và 2,4. Không có dữ liệu ở bệnh nhân có độ thanh thải creatinin <15 ml/phút.

    Do tính liên kết cao với protein huyết tương, rivaroxaban không được cho là có thể thẩm tách được.

    Khuyến cáo không sử dụng ở những bệnh nhân có độ thanh thải creatinin <15 ml/ phút. Thận trọng khi dùng rivaroxaban cho những bệnh nhân có độ thanh thải creatinin 15 - 29 ml/ phút.

    Không có dữ liệu lâm sàng ở trẻ em từ 1 tuổi trở lên bị suy thận vừa hoặc nặng (tốc độ lọc cầu thận < 50 mL/phút/1.73 m2).

    Vui lòng xem thêm các thông tin về "Dữ liệu dược động học ở bệnh nhân" và "Dữ liệu an toàn tiền lâm sàng" trong tờ hướng dẫn sử dụng thuốc đính kèm sản phẩm.

    Cách dùng Thuốc Rivacryst 15mg

    Cách dùng

    Người lớn

    Thuốc dùng đường uống.

    Uống thuốc cùng với thức ăn.

    Nghiền nát viên thuốc

    Đối với những bênh nhân không thể nuốt cả viên, có thể nghiền nát viên nén rivaroxaban và hòa với nước hoặc trộn với táo xay nhuyễn ngay trước khi sử dụng và uống. Uống rivaroxaban 15 mg hoặc 20 mg sau khi nghiền nát ngay trước khi ăn.

    Viên nén rivaroxaban đã được nghiền nát cũng có thể được đưa qua ống thông dạ dày sau khi đã xác nhận đúng vị trí đặt ống vào dạ dày. Viên nén đã được nghiền nát nên được dùng với một lượng nhỏ nước qua ống thông dạ dày, sau đó phải rửa sạch bằng nước. Sau khi viên rivaroxaban 15 mg hoặc 20 mg đã được nghiền nát, nên cho ăn ngay qua đường ruột (xem mục Đặc tính dược động học).

    Trẻ em và thanh thiếu niên nặng từ 30 kg đến 50 kg

    Rivaroxaban được dùng bằng đường uống.

    Bệnh nhân nên uống viên thuốc với chất lỏng. Nên được dùng cùng với thức ăn. Các viên thuốc nên được uống cách nhau khoảng 24 giờ.

    Trong trường hợp bệnh nhân nhổ ngay liều thuốc hoặc nôn ra trong vòng 30 phút sau khi uống thuốc thì nên uống một liều mới. Tuy nhiên, nếu bệnh nhân nôn quá 30 phút sau khi uống thì không nên uống lại liều đó và phải dùng liều tiếp theo theo thời gian bác sỹ kê đơn.

    Không được chia nhỏ viên thuốc nhằm mục đích dùng liều ít hơn 1 viên.

    Nghiền nát viên thuốc

    Đối với những bệnh nhân không thể nuốt cả viên, viên Rivaroxaban có thể được nghiền nát và hòa với nước hoặc trộn với táo xay nhuyễn ngay trước khi sử dụng và uống.

    Có thể cho viên thuốc đã được nghiền nát qua ống thông mũi dạ dày hoặc ống thông dạ dày.

    Liều dùng

    Phòng ngừa đột quy và thuyên tắc mạch toàn thân ở người lớn:

    Liều khuyến cáo là 20 mg một lần mỗi ngày, đây cũng là liều tối đa được khuyến cáo.

    Liệu pháp điều trị với rivaroxaban nên được thực hiện trong thời gian dài với lợi ích dự phòng đột quy và thuyên tắc mạch toàn thân vượt trội so với nguy cơ chảy máu.

    Nếu bỏ lỡ một liều, bệnh nhân nên dùng rivaroxaban ngay lập tức và tiếp tục vào ngày hôm sau với liều lượng một lần mỗi ngày theo khuyến cáo. Không được tăng liều gấp đôi trong cùng ngày để bù cho liều đã quên.

    Điều trị huyết khối tĩnh mạch sâu (DVT) và thuyên tắc phổi (PE), phòng ngừa tái phát DVT và PE ở người lớn:

    Liều khuyến cáo để khởi đầu điều trị DVT hoặc PE cấp tính là 15 mg x 2 lần/ngày trong ba tuần đầu, tiếp theo là 20 mg x 1 lần/ngày để điều trị duy trì và phòng ngừa DVT và PE tái phát.

    Thời gian điều trị ngắn (ít nhất 3 tháng) nên được xem xét ở những bệnh nhân DVT hoặc PE gây ra bởi các yếu tố nguy cơ thoáng qua nghiêm trọng (tức là phẫu thuật lớn hoặc chấn thương nghiêm trọng gần đây). Thời gian điều trị dài hơn nên được xem xét ở những bệnh nhân có DVT hoặc PE có nguyên nhân không liên quan đến các yếu tố nguy cơ thoáng qua nghiêm trọng, DVT hoặc PE không nguyên nhân, hoặc có tiền sử DVT hoặc PE tái phát.

    Khi có chỉ định kéo dài phòng ngừa DVT và PE tái phát (sau khi hoàn thành liệu pháp điều trị DVT hoặc PE ít nhất 6 tháng), liều khuyến cáo là 10 mg x 1 lần/ngày. Cân nhắc sử dụng liều rivaroxaban 20 mg x 1 lần/ngày trên những bệnh nhân có nguy cơ DVT hoặc PE tái phát được coi là cao, chẳng hạn như những người có bệnh kèm theo phức tạp, hoặc những người đã tái phát DVT hoặc PE với liều dự phòng kéo dài rivaroxaban 10 mg x 1 lần/ngày.

    Thời gian điều trị và lựa chọn liều nên được cá nhân hóa sau khi đánh giá cẩn thận lợi ích điều trị so với nguy cơ chảy máu.

    Khoảng thời gianLịch dùng thuốcTổng liều hàng ngày
    Điều trị và phòng ngừa DVT và PE tái phátNgày 1 - 2115 mg × 2 lần/ngày30 mg
    Ngày 22 trở đi20 mg × 1 lần/ngày20 mg
    Phòng ngừa DVT và PE tái phátSau khi hoàn thành liệu pháp ít nhất 6 tháng đối với DVT hoặc PE10 mg × 1 lần/ngày hoặc 20 mg × 1 lần/ngày10 mg hoặc 20 mg

    Nếu bỏ lỡ một liều trong giai đoạn điều trị 15 mg x 2 lần/ngày (ngày 1 - 21), bệnh nhân nên dùng rivaroxaban ngay lập tức để đảm bảo đủ 30 mg rivaroxaban mỗi ngày. Trong trường hợp này có thể uống hai viên 15 mg cùng một lúc. Bệnh nhân nên tiếp tục với liều 15 mg x 2 lần/ngày như khuyến cáo vào ngày hôm sau.

    Nếu bỏ lỡ một liều trong giai đoạn điều trị một lần mỗi ngày, bệnh nhân nên dùng rivaroxaban ngay lập tức, và tiếp tục vào ngày hôm sau với lượng một lần mỗi ngày như khuyến cáo. Không được tăng liều gấp đôi trong cùng ngày để bù cho liều đã quên.

    Điều trị huyết khối tĩnh mạch (VTE) và dự phòng tái phát VTE ở trẻ em và thanh thiếu niên:

    Điều trị rivaroxaban ở trẻ em và thanh thiếu niên dưới 18 tuổi nên được bắt đầu sau ít nhất 5 ngày kể từ ngày khởi đầu điều trị thuốc chống đông máu qua đường tiêm.

    Liều dùng cho trẻ em và thanh thiếu niên được tính dựa trên trọng lượng cơ thể.

    • Trọng lượng cơ thể từ 30 đến 50 kg: Khuyến cáo dùng liều rivaroxaban 15 mg một lần mỗi ngày. Đây là liều tối đa hàng ngày.
    • Trọng lượng cơ thể từ 50 kg trở lên: Khuyến cáo dùng liều rivaroxaban 20 mg một lần mỗi ngày. Đây là liều tối đa hàng ngày.

    Cần thường xuyên theo dõi cân nặng của trẻ và xem xét liều. Điều này để đảm bảo duy trì liều điều trị. Việc điều chỉnh liều chỉ nên được thực hiện dựa trên sự thay đổi trọng lượng của cơ thể.

    Thời gian điều trị cần được duy trì trong ít nhất 3 tháng ở trẻ em và thanh thiếu niên. Thời gian điều trị có thể kéo dài đến 12 tháng khi cần thiết về mặt lâm sàng. Không có dữ liệu có sẵn ở trẻ em ủng hộ việc giảm liều sau 6 tháng điều trị. Nên đánh giá lợi ích - nguy cơ của việc tiếp tục điều trị sau 3 tháng dựa trên cơ sở từng cá nhân, có tính đến nguy cơ tái phát huyết khối so với nguy cơ chảy máu tiềm ẩn.

    Nếu bỏ lỡ một liều trong giai đoạn điều trị một lần mỗi ngày, bệnh nhân nên dùng rivaroxaban ngay lập tức, và tiếp tục vào ngày hôm sau với lượng một lần mỗi ngày như khuyến cáo. Không được tăng liều gấp đôi trong cùng ngày để bù cho liều đã quên.

    Chuyển từ Thuốc đối kháng vitamin K (VKA) sang rivaroxaban:

    Đối với bệnh nhân được điều trị để phòng ngừa đột quỵ và thuyên tắc mạch toàn thân:

    Nên ngừng điều trị VKA và bắt đầu điều trị bằng rivaroxaban khi tỉ lệ chuẩn hóa quốc tế (INR- International Normalised Ratio) ≤ 3,0.

    Đối với điều trị DVT, PE và phòng ngừa tái phát ở người lớn và với điều trị VTE và phòng ngừa tái phát ở bệnh nhân nhi:

    Nên ngừng điều trị VKA và bắt đầu điều trị bằng rivaroxaban khi INR ≤ 2,5.

    Khi chuyển bệnh nhân từ VKA sang rivaroxaban, giá trị INR sẽ tăng giả sau khi uống rivaroxaban. INR không có giá trị để đo hoạt tính chống đông máu của rivaroxaban, do đó không nên sử dụng.

    Chuyển từ rivaroxaban sang Thuốc đối kháng Vitamin K (VKA):

    Có khả năng xảy ra tình trạng chống đông không đủ trong quá trình chuyển từ rivaroxaban sang VKA. Cần đảm bảo chống đông đủ liên tục trong quá trình chuyển sang thuốc chống đông thay thế. Cần lưu ý rằng rivaroxaban có thể góp phần làm tăng INR.

    Ở những bệnh nhân chuyển từ rivaroxaban sang VKA, nên sử dụng đồng thời VKA cho đến khi INR ≥ 2,0. Trong hai ngày đầu tiên của giai đoạn chuyển đổi, nên sử dụng liều tiêu chuẩn ban đầu của VKA, sau đó là liều VKA điều chỉnh theo kết quả INR. Trong khi bệnh nhân đang sử dụng cả rivaroxaban và VKA, INR không nên được kiểm tra sớm hơn 24 giờ sau liều dùng trước và trước khi dùng liều rivaroxaban tiếp theo. Sau khi ngừng sử dụng rivaroxaban, xét nghiệm INR có thể được thực hiện một cách đáng tin cậy ít nhất 24 giờ sau liều cuối cùng.

    Bệnh nhân nhi: Trẻ em khi chuyển từ rivaroxaban sang VKA cần tiếp tục sử dụng rivaroxaban trong 48 giờ sau liều VKA đầu tiên. 2 ngày sau khi dùng kết hợp cả rivaroxaban và VKA, cần đánh giá INR trước khi tiếp tục liều VKA tiếp theo theo kế hoạch. Việc dùng kết hợp rivaroxaban và VKA nên được tiếp tục đến khi INR ≥ 2,0. Sau khi dừng rivaroxaban, kiểm tra INR sau liều cuối cùng sử dụng.

    Chuyển từ thuốc chống đông máu đường tiêm sang rivaroxaban:

    Đối với những bệnh nhân hiện đang dùng thuốc chống đông máu đường tiêm, hãy ngừng thuốc chống đông đường tiêm và bắt đầu dùng rivaroxaban 0 đến 2 giờ trước thời điểm dùng thuốc theo lịch tiếp theo (đối với heparin trọng lượng phân tử thấp) hoặc tại thời điểm ngừng sử dụng sản phẩm thuốc chống đông đường tiêm dùng liên tục (đối với heparin không phân đoạn tiêm tĩnh mạch).

    Chuyển từ rivaroxaban sang thuốc chống đông máu đường tiêm:

    Dùng liều đầu tiên của thuốc chống đông máu đường tiêm vào thời điểm uống liều rivaroxaban tiếp theo.

    Nhóm bệnh nhận đặc biệt:

    Người suy thận

    Người lớn:

    Dữ liệu lâm sàng hạn chế trên bệnh nhân suy thận nặng (độ thanh thải creatinin 15 - 29 ml/phút) chỉ ra rằng nồng độ rivaroxaban trong huyết tương tăng lên đáng kể. Do đó, rivaroxaban phải được sử dụng thận trọng cho những bệnh nhân này. Không khuyến cáo sử dụng ở những bệnh nhân có độ thanh thải creatinin < 15 ml/phút.

    Trường hợp suy thận trung bình (độ thanh thải creatinin 30 - 49 ml/phút) hoặc suy thận nặng (độ thanh thải creatinin 15 - 29 ml/phút), áp dụng khuyến nghị về liều lượng sau đây:

    • Để phòng ngừa đột quỵ và tắc mạch hệ thống ở bệnh nhân rung nhĩ không do bệnh van tim, liều khuyến cáo là 15 mg x 1 lần/ngày.
    • Để điều trị DVT, điều trị PE và phòng ngừa tái phát DVT và PE: bệnh nhân nên được điều trị với liều 15 mg x 2 lần/ngày trong 3 tuần đầu. Sau đó, khi liều khuyến nghị là 20 mg x 1 lần/ngày, nên xem xét giảm liều từ 20 mg x 1 lần/ngày xuống liều 15 mg x 1 lần/ngày nếu đánh giá nguy cơ chảy máu cao hơn nguy cơ tái phát DVT và PE. Khuyến cáo sử dụng liều 15 mg x 1 lần/ngày dựa trên mô hình dược động học và chưa được nghiên cứu trong bối cảnh lâm sàng này.

    Khi liều khuyến cáo là 10 mg x 1 lần/ngày, không cần điều chỉnh liều so với liều khuyến cáo.

    Không cần điều chỉnh liều ở bệnh nhân suy thận nhẹ (độ thanh thải creatinin 50 - 80 ml/phút).

    Bệnh nhân nhi:

    • Trẻ em và thanh thiếu niên suy thận nhẹ (tốc độ lọc cầu thận 50 - 80 ml/phút/1,73 m2): Không cần điều chỉnh liều, dựa trên dữ liệu ở người lớn và dữ liệu hạn chế ở bệnh nhi.
    • Trẻ em và thanh thiếu niên bị suy thận vừa hoặc nặng (tốc độ lọc cầu thận < 50 ml/phút/1,73 m2): Rivaroxaban không được khuyến cáo vì không có dữ liệu lâm sàng.

    Suy gan

    Rivaroxaban được chống chỉ định ở những bệnh nhân bị bệnh gan liên quan đến rối loạn đông máu và nguy cơ chảy máu liên quan về mặt lâm sàng bao gồm các bệnh nhân xơ gan Child Pugh B và C.

    Không có dữ liệu lâm sàng ở trẻ em bị suy gan.

    Người lớn tuổi

    Không điều chỉnh liều.

    Trọng lượng cơ thể

    Không điều chỉnh liều.

    Đối với bệnh nhân nhi, liều lượng được xác định dựa trên trọng lượng cơ thể.

    Giới tính

    Không điều chỉnh liều.

    Bệnh nhân đang điều trị sốc điện chuyển nhịp

    Rivaroxaban có thể được bắt đầu hoặc tiếp tục ở những bệnh nhân cần sốc điện chuyển nhịp.

    Đối với bệnh nhân chuyển nhịp dựa vào siêu âm qua thực quản (TTE) mà không được điều trị kháng đông trước đó, rivaroxaban nên được bắt đầu ít nhất 4 giờ trước chuyển nhịp để đảm bảo hiệu quả kháng đông đầy đủ. Nên tìm hiểu xem bệnh nhân có sử dụng rivaroxaban như trong đơn thuốc trước khi chuyển nhịp hay không cho tất cả các bệnh nhân. Việc quyết định khởi đầu và liệu trình điều trị nên được dựa vào các hướng dẫn điều trị kháng đông ở bệnh nhân chuyển nhịp.

    Bệnh nhân rung nhĩ không do bệnh van tim đã trải qua PCI (can thiệp mạch vành qua da) với đặt stent

    Có ít kinh nghiệm về việc giảm liều 15 mg rivaroxaban một lần mỗi ngày (hoặc 10 mg rivaroxaban một lần mỗi ngày cho bệnh nhân suy thận trung bình (độ thanh thải creatinin 30 - 49 ml/phút) khi kết hợp với chất ức chế P2Y12 trong tối đa 12 tháng ở những bệnh nhân rung nhĩ không do bệnh van tim cần dùng kháng đông đường uống và trải qua PCI có đặt stent.

    Bệnh nhân nhi

    An toàn và hiệu quả của rivaroxaban ở trẻ em từ 0 đến 18 tuổi chưa được xác định trong chỉ định phòng ngừa đột quy và thuyên tắc mạch hệ thống ở bệnh nhân rung nhĩ không do bệnh van tim. Không có dữ liệu có sẵn. Dó đó không khuyến cáo sử dụng thuốc cho trẻ em dưới 18 tuổi với các chỉ định khác ngoài điều trị huyết khối tĩnh mạch (VTE) và phòng ngừa tái phát VTE.

    Lưu ý: Liều dùng trên chỉ mang tính chất tham khảo. Liều dùng cụ thể tùy thuộc vào thể trạng và mức độ diễn tiến của bệnh. Để có liều dùng phù hợp, bạn cần tham khảo ý kiến bác sĩ hoặc chuyên viên y tế.

    Làm gì khi dùng quá liều?

    Các trường hợp quá liều lên đến 1.960 mg đã được báo cáo. Trong trường hợp quá liều, bệnh nhân cần được theo dõi cẩn thận các biến chứng chảy máu hoặc các phản ứng bất lợi khác (xem mục "Xử trí chảy máu”. Do hấp thu hạn chế, dự kiến sẽ có một hiệu ứng trần mà không tăng nồng độ trung bình trong huyết tương ở liều siêu trị liệu 50mg rivaroxaban hoặc cao hơn.

    Hiện có một loại thuốc hóa giải đặc hiệu (andexanet alfa) đối kháng tác dụng dược lực học của rivaroxaban.

    Có thể cân nhắc sử dụng than hoạt để giảm hấp thu trong trường hợp quá liều rivaroxaban.

    Xử trí chảy máu

    Nếu biến chứng chảy máu xảy ra ở bệnh nhân đang dùng rivaroxaban, nên trì hoãn việc dùng rivaroxaban tiếp theo hoặc ngừng điều trị khi thích hợp. Rivaroxaban có thời gian bán thải khoảng 5 đến 13 giờ. Xử trí tùy theo cá nhân dựa trên mức độ nghiêm trọng và vị trí xuất huyết. Có thể điều trị triệu chứng khi cần thiết, chẳng hạn như băng ép cơ học (ví dụ như chảy máu cam nặng), cầm máu bằng phẫu thuật với các thủ thuật kiểm soát chảy máu, bù dịch và hỗ trợ huyết động, các sản phẩm máu (hồng cầu lắng hoặc huyết tương đông lạnh tươi, tùy thuộc vào tình trạng thiếu máu hoặc rối loạn đông máu kèm theo) hoặc tiểu cầu.

    Nếu không thể kiểm soát chảy máu bằng các biện pháp trên, có thể cân nhắc hoặc dùng thuốc hóa giải đặc hiệu ức chế tác nhân Xa (andexanet alfa) đối kháng tác dụng dược lực học của rivaroxaban, hoặc một thuốc đông máu cụ thể, chẳng hạn như phức hợp prothrombin cô đặc (PCC), phức hợp prothrombin cô đặc được hoạt hóa (APCC) hoặc yếu tố tái tổ hợp Vlla (r-FVIla). Tuy nhiên, hiện có rất ít kinh nghiệm lâm sàng về việc sử dụng các sản phẩm thuốc này ở những người dùng rivaroxaban. Khuyến cáo cũng dựa trên dữ liệu phi lâm sàng hạn chế. Việc định lượng lại yếu tố Vlla tái tổ hợp sẽ được cân nhắc và chuẩn độ tùy thuộc vào tình trạng cải thiện chảy máu. Tùy thuộc vào tình trạng sẵn có của địa phương, nên tham khảo ý kiến của chuyên gia đông máu trong trường hợp chảy máu nhiều.

    Protamin sulphat và vitamin K được cho là không ảnh hưởng đến hoạt tính chống đông máu của rivaroxaban. Có ít kinh nghiệm với acid tranexamic và không có kinh nghiệm với acid aminocaproic và aprotinin ở những người dùng rivaroxaban. Không có cơ sở lý luận khoa học về lợi ích cũng như kinh nghiệm về việc sử dụng desmopressin cầm máu toàn thân ở những người dùng rivaroxaban. Do tính liên kết cao với protein huyết tương, rivaroxaban không được cho là có thể thẩm tách được.

    Trong trường hợp khẩn cấp, hãy gọi ngay cho Trung tâm cấp cứu 115 hoặc đến trạm Y tế địa phương gần nhất.

    Làm gì khi quên 1 liều?

    Bổ sung liều ngay khi nhớ ra. Tuy nhiên, nếu thời gian giãn cách với liều tiếp theo quá ngắn thì bỏ qua liều đã quên và tiếp tục lịch dùng thuốc. Không dùng liều gấp đôi để bù cho liều đã bị bỏ lỡ.

    Tác dụng phụ

    Khi sử dụng thuốc Rivacryst 15 mg bạn có thể gặp các tác dụng không mong muốn (ADR):

    Vui lòng xem thêm các thông tin về "Tóm tắt hồ sơ tính an toàn" trong tờ hướng dẫn sử dụng thuốc đính kèm sản phẩm.

    Bảng danh sách các phản ứng có hại

    Tần suất của các phản ứng có hại được báo cáo với rivaroxaban được tóm tắt trong bảng dưới đây theo nhóm cơ quan hệ thống (trong MedDRA) và theo tần suất.

    Tần suất được định nghĩa là: Rất phổ biến (≥ 1/10); phổ biến (≥ 1/100 đến < 1/10); không phổ biến (≥ 1/1.000 đến < 1/100); hiếm (≥ 1/10.000 đến < 1/1.000); rất hiếm (< 1/10.000); không được biết (không thể ước tính từ dữ liệu có sẵn).

    Tất cả các phản ứng có hại được báo cáo ở bệnh nhân trong thử nghiệm lâm sàng pha III hoặc thông qua việc sử dụng thuốc sau khi đưa ra thị trường * và trong 2 nghiên cứu pha II và 2 nghiên cứu pha III ở bệnh nhân trẻ em.

    Phổ biếnKhông phổ biếnHiếmRất hiếmKhông được biết
    Rối loạn hệ thống bạch huyết và máu
    Thiếu máu (bao gồm các thông số phòng thí nghiệm tương ứng)Tăng tiểu cầu (bao gồm số lượng tiểu cầu tăng)A, giảm tiểu cầu
    Rối loạn hệ thống miễn dịch
    Phản ứng dị ứng, viêm da dị ứng, phù mạch và phù dị ứng Phản ứng phản vệ bao gồm cả sốc phản vệ
    Rối loạn hệ thần kinh
    Chóng mặt, nhức đầuXuất huyết não và nội sọ, ngất
    Rối loạn mắt
    Xuất huyết mắt (bao gồm xuất huyết kết mạc)
    Rối loạn tim
    Nhịp tim nhanh
    Rối loạn mạch máu
    Hạ huyết áp, tụ máu
    Rối loạn hô hấp, lồng ngực và trung thất
    Chảy máu cam, ho ra máu
    Rối loạn tiêu hóa
    Chảy máu nướu răng, xuất huyết đường tiêu hóa (bao gồm cả xuất huyết trực tràng), đau bụng và khó tiêu, buồn nôn, táo bón, tiêu chảyA, nôn mửaAKhô miệng
    Rối loạn gan mật
    Tăng transaminaseSuy gan, tăng bilirubin, tăng phosphatase kiềm trong máu, tăng GGTAVàng da, bilirubin liên hợp tăng (có hoặc không đồng thời tăng ALT), ứ mật, viêm gan (bao gồm tổn thương tế bào gan)
    Rối loạn da và mô dưới da
    Ngứa (bao gồm các trường hợp ngứa toàn thân không phổ biến), phát ban, bầm máu, xuất huyết da và dưới daMề đay Hội chứng Stevens-Johnson/Nhiễm độc hoại tử biểu bì, hội chứng DRESS
    Rối loạn cơ xương và mô liên kết
    Đau ở các chiATụ máu khớpXuất huyết cơ Hội chứng chèn ép khoang thứ phát sau chảy máu
    Rối loạn thận và tiết niệu
    Xuất huyết đường tiết niệu (bao gồm đái ra máu và rong kinhB), suy thận (bao gồm creatinin máu tăng, urê máu tăng) Suy thận/suy thận cấp thứ phát sau chảy máu đủ để gây giảm tưới máu
    Các rối loạn chung và tình trạng khu vực sử dụng
    SốtA, phù ngoại vi, giảm sức mạnh và năng lượng chung (bao gồm cả mệt mỏi và suy nhược)Cảm thấy không khỏe (bao gồm cả khó chịu)Phù cục bộA
    Kiểm tra

    Tăng LDHA,

    Tăng lipaseA,

    Tăng amylaseA

    Chấn thương, ngộ độc và các biến chứng
    Xuất huyết sau phẫu thuật (bao gồm thiếu máu sau phẫu thuật và xuất huyết vết thương), vết bầm, tiết dịch vết thươngA Pseudoaneurysm mạch máuC

    A: Quan sát thấy trong phòng ngừa VTE ở bệnh nhân người lớn trải qua phẫu thuật thay thế khớp gối hoặc khớp háng.

    B: Quan sát thấy trong điều trị DVT, PE và ngăn ngừa tái phát rất phổ biến ở phụ nữ <55 tuổi.

    C: Quan sát thấy không phổ biến trong phòng ngừa biến cổ huyết khối ở bệnh nhân sau ACS (sau can thiệp mạch vành qua da).

    * Một cách tiếp cận chọn lọc được xác định trước để thu thập thông tin về các phản ứng bất lợi đã được áp dụng trong các nghiên cứu chọn lọc pha III. Tỷ lệ phản ứng bất lợi không tăng và không có phản ứng bất lợi mới nào được xác định sau khi phân tích các nghiên cứu này.

    Mô tả các phản ứng bất lợi được chọn

    Do phương thức tác dụng dược lý, việc sử dụng rivaroxaban có thể làm tăng nguy cơ chảy máu ẩn hoặc chảy máu quá mức từ bất kỳ mô hoặc cơ quan nào có thể dẫn đến thiếu máu sau xuất huyết. Các dấu hiệu, triệu chứng và mức độ nghiêm trọng (bao gồm cả dẫn đến tử vong) sẽ khác nhau tùy theo vị trí và mức độ chảy máu và/hoặc thiếu máu (xem "Xử trí chảy máu” trong mục Quá liều). Trong các nghiên cứu lâm sàng, chảy máu niêm mạc (tức là chảy máu cam, lợi, đường tiêu hóa, đường tiết niệu bao gồm chảy máu âm đạo bất thường hoặc tăng kinh nguyệt) và thiếu máu được thấy thường xuyên hơn khi điều trị rivaroxaban lâu dài so với điều trị VKA. Do đó, ngoài việc theo dõi lâm sàng đầy đủ, cần làm xét nghiệm hemoglobin/hematocrit để phát hiện chảy máu ẩn và định lượng mức độ chảy máu quá mức liên quan trên lâm sàng. Nguy cơ chảy máu có thể tăng lên ở một số nhóm bệnh nhân nhất định, ví dụ: Những bệnh nhân bị tăng huyết áp động mạch nặng không kiểm soát được và/hoặc đang điều trị các bệnh đồng thời có ảnh hưởng đến quá trình cầm máu. Rong kinh có thể nhiều hơn và/hoặc kéo dài. Các biến chứng xuất huyết có thể biểu hiện như suy nhược, xanh xao, chóng mặt, nhức đầu hoặc sưng tấy không rõ nguyên nhân, khó thở và sốc không rõ nguyên nhân. Trong một số trường hợp do hậu quả của thiếu máu, các triệu chứng của thiếu máu cục bộ ở tim như đau ngực hoặc đau thắt ngực đã được quan sát thấy.

    Các biến chứng đã biết thứ phát sau chảy máu nặng như hội chứng chèn ép khoang và suy thận do giảm tưới máu đã được báo cáo đối với rivaroxaban. Do đó, khả năng xuất huyết phải được xem xét khi đánh giá tình trạng bệnh ở bệnh nhân kháng đông.

    Bệnh nhân nhi

    Điều trị VTE và ngăn ngừa tái phát VTE

    Đánh giá độ an toàn ở trẻ em và thanh thiếu niên dựa trên dữ liệu an toàn từ hai nghiên cứu nhãn mở có kiểm soát hoạt chất giai đoạn II và một nghiên cứu giai đoạn IlI ở bệnh nhi từ sơ sinh đến dưới 18 tuổi. Các phát hiện về tính an toàn nhìn chung tương tự nhau giữa rivaroxaban và thuốc so sánh ở các nhóm tuổi trẻ em khác nhau. Nhìn chung, đặc điểm an toàn ở 412 trẻ em và thanh thiếu niên được điều trị bằng rivaroxaban tương tự như đặc điểm quan sát được ở người lớn và nhất quán giữa các phân nhóm tuổi, mặc dù việc đánh giá còn hạn chế ở số lượng nhỏ bệnh nhân.

    Ở bệnh nhi, nhức đầu (rất phổ biến, 16,7%), sốt (rất phổ biến, 11,7%), chảy máu cam (rất phổ biến, 11,2%), nôn mửa (rất phổ biến, 10,7%), nhịp tim nhanh (thường gặp, 1,5%), tăng bilirubin (phổ biến, 1,5%) và bilirubin liên hợp tăng (không phổ biến, 0,7%) được báo cáo thường xuyên hơn so với người lớn. Phù hợp với dân số trưởng thành, rong kinh được quan sát thấy ở 6,6% (phổ biến) thanh thiếu niên nữ sau khi có kinh. Tình trạng giảm tiểu cầu được quan sát sau khi đưa thuốc ra thị trường ở người trưởng thành là phổ biến (4,6%) trong các nghiên cứu lâm sàng ở trẻ em. Các phản ứng bất lợi của thuốc ở bệnh nhi chủ yếu ở mức độ nhẹ đến trung bình.

    Hướng dẫn cách xử trí ADR:

    Thông báo cho thầy thuốc các tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.

    Lưu ý

    Trước khi sử dụng thuốc bạn cần đọc kỹ hướng dẫn sử dụng và tham khảo thông tin bên dưới.

    Chống chỉ định

    Thuốc Rivacryst 15 mg chống chỉ định trong các trường hợp sau:

    • Quá mẫn với hoạt chất hoặc với bất kỳ thành phần nào của thuốc.
    • Bệnh nhân chảy máu đáng kể trên lâm sàng.
    • Tổn thương hoặc tình trạng được coi là có nguy cơ đáng kể dẫn đến chảy máu nghiêm trọng có thể bao gồm đang hoặc mới loét đường tiêu hóa, sự hiện diện của khối u ác tính có nguy cơ chảy máu cao, mới chấn thương não hoặc cột sống, phẫu thuật não, cột sống hoặc nhãn khoa, mới xuất huyết nội sọ, giãn tĩnh mạch thực quản đã biết hoặc nghi ngờ, dị dạng động tĩnh mạch, phình mạch hoặc bất thường mạch máu nội tủy hoặc trong não.
    • Điều trị đồng thời với thuốc chống đông máu khác, ví dụ: Heparin không phân đoạn (UFH), heparin trọng lượng phân tử thấp (enoxaparin, dalteparin,...), dẫn xuất heparin (fondaparinux,...), thuốc chống đông đường uống (warfarin, dabigatran etexilate, apixaban,...) trừ những trường hợp chuyển đổi liệu pháp chống đông máu cụ thể hoặc khi UFH được dùng với liều lượng cần thiết để duy trì mở tĩnh mạch trung tâm hoặc đặt catheter động mạch.
    • Bệnh gan liên quan đến rối loạn đông máu và nguy cơ chảy máu liên quan về mặt lâm sàng bao gồm bệnh nhân xơ gan Child Pugh B và C.
    • Phụ nữ mang thai và cho con bú.

    Thận trọng khi sử dụng

    Theo dõi lâm sàng phù hợp với thực hành chống đông máu được khuyến cáo trong suốt thời gian điều trị.

    Nguy cơ xuất huyết

    Cũng như các thuốc chống đông máu khác, bệnh nhân dùng rivaroxaban phải được quan sát cẩn thận các dấu hiệu chảy máu, thận trọng trong các tình trạng tăng nguy cơ xuất huyết. Nên ngừng dùng rivaroxaban nếu xảy ra xuất huyết nặng.

    Trong các nghiên cứu lâm sàng, chảy máu niêm mạc (tức là chảy máu cam, lợi, đường tiêu hóa, đường tiết niệu bao gồm chảy máu âm đạo bất thường hoặc tăng chảy máu trong kỳ kinh nguyệt) và thiếu máu được thấy thường xuyên hơn khi điều trị rivaroxaban lâu dài so với điều trị VKA. Do đó, ngoài việc theo dõi lâm sàng đầy đủ, có thể xét nghiệm hemoglobin/hematocrit để phát hiện chảy máu ẩn và định lượng mức độ liên quan lâm sàng của chảy máu quá mức.

    Một số nhóm bệnh nhân, như được trình bày dưới đây, có nguy cơ chảy máu cao hơn. Những bệnh nhân này phải được theo dõi cẩn thận về các dấu hiệu và triệu chứng của biến chứng chảy máu và thiếu máu sau khi bắt đầu điều trị.

    Giảm huyết sắc tố hoặc huyết áp không rõ nguyên nhân cần phải tìm hiểu vị trí chảy máu.

    Mặc dù điều trị bằng rivaroxaban không yêu cầu theo dõi nồng độ thuốc thường xuyên, nhưng nồng độ rivaroxaban được đo bằng xét nghiệm định lượng kháng yếu tố Xa đã hiệu chuẩn có thế hữu ích trong các trường hợp ngoại lệ mà sự am hiểu về nồng độ rivaroxaban có thể giúp cho những quyết định lâm sàng, ví dụ: quá liều và phẫu thuật cấp cứu.

    Bệnh nhân nhi: Có dữ liệu hạn chế ở trẻ em có nhiễm trùng hệ thần kinh trung ương bị huyết khối tĩnh mạch não và xoang. Cần đánh giá cẩn thận nguy cơ chảy máu trước và trong khi điều trị bằng rivaroxaban.

    Suy thận

    Ở' những bệnh nhân suy thận nặng (độ thanh thải creatinin < 30 ml/phút), nồng độ rivaroxaban trong huyết tương có thể tăng lên đáng kể (trung bình 1,6 lần) và có thể dẫn đến tăng nguy cơ chảy máu. Thận trọng khi dùng rivaroxaban cho những bệnh nhân có độ thanh thải creatinin 15 - 29 ml/phút. Không khuyến cáo sử dụng ở những bệnh nhân có độ thanh thải creatinin < 15 ml/phút.

    Rivaroxaban nên được sử dụng thận trọng cho bệnh nhân suy thận đang dùng các thuốc khác làm tăng nồng độ rivaroxaban trong huyết tương.

    Rivaroxaban không được khuyến cáo ở trẻ em và thanh thiếu niên bị suy thận vừa hoặc nặng (tốc độ lọc cầu thận < 50 mL/phút/1,73 m2), vì không có dữ liệu lâm sàng.

    Tương tác với các thuốc khác

    Việc sử dụng rivaroxaban không được khuyến cáo ở những bệnh nhân đang điều trị đồng thời với thuốc kháng nấm azole (như ketoconazol, itraconazol, voriconazol và posaconazol) hoặc thuốc ức chế protease HIV (ví dụ: ritonavir). Các hoạt chất này là chất ức chế mạnh cả CYP3A4 và P-gp, do đó có thể làm tăng nồng độ rivaroxaban trong huyết tương ở mức độ có liên quan về lâm sàng (trung bình 2,6 lần) và có thể dẫn đến tăng nguy cơ chảy máu.

    Cần thận trọng nếu bệnh nhân được điều trị đồng thời với các thuốc ảnh hưởng đến quá trình cầm máu như thuốc chống viêm không steroid (NSAID), axit acetylsalicylic (ASA) và thuốc ức chế kết tập tiểu cầu hoặc thuốc ức chế tái hấp thu chọn lọc serotonin (SSRI) và thuốc ức chế tái hấp thu serotonin norepinephrine (SNRI). Đối với những bệnh nhân có nguy cơ mắc bệnh loét đường tiêu hóa, có thể cân nhắc điều trị dự phòng thích hợp.

    Các yếu tố nguy cợ xuất huyết khác

    Cũng như các thuốc chống huyết khối khác, rivaroxaban không được khuyến cáo ở những bệnh nhân có nguy cơ chảy máu cao như:

    • Rối loạn chảy máu bẩm sinh hoặc mắc phải.
    • Tăng huyết áp động mạch nghiêm trọng không kiểm soát được.
    • Bệnh đường tiêu hóa khác không có vết loét hoạt động nhưng có thể tiềm tàng dẫn đến biến chứng chảy máu (ví dụ như bệnh viêm ruột, viêm thực quản, viêm dạ dày và bệnh trào ngược dạ dày thực quản).
    • Bệnh võng mạc mạch máu.
    • Giãn phế quản hoặc tiền sử chảy máu phổi.

    Bệnh nhân ung thư

    Bệnh nhân mắc bệnh ác tính có thể đồng thời có nguy cơ chảy máu và huyết khối cao hơn. Lợi ích riêng lẻ của việc điều trị chống huyết khối nên được cân nhắc với nguy cơ chảy máu ở bệnh nhân mắc ung thư ác tính phụ thuộc vào vị trí của khối u, liệu pháp chống ung thư và giai đoạn bệnh. Các khối u nằm ở đường tiêu hóa hoặc đường sinh dục có liên quan đến nguy cơ tăng chảy máu trong suốt quá trình điều trị bằng rivaroxaban.

    Những bệnh nhân có khối u ác tính có nguy cơ chảy máu cao, chống chỉ định sử dụng rivaroxaban.

    Bệnh nhân có van nhân tạo

    Rivaroxaban không nên được sử dụng để dự phòng huyết khối ở những bệnh nhân vừa trải qua thay van động mạch chủ qua ống thông (TAVR). Tính an toàn và hiệu quả của rivaroxaban chưa được nghiên cứu ở những bệnh nhân có van tim nhân tạo; do đó, không có dữ liệu nào chứng minh rằng rivaroxaban có thể chống đông máu thích hợp cho nhóm bệnh nhân này. Không khuyến cáo điều trị bằng rivaroxaban cho những bệnh nhân này.

    Bệnh nhân mắc hội chứng kháng phospholipid

    Không khuyến cáo sử dụng thuốc chống đông máu đường uống tác dụng trực tiếp (DOAC) bao gồm rivaroxaban cho những bệnh e nhân có tiền sử huyết khối được chẩn đoán mắc hội chứng kháng phospholipid. Đặc biệt đối với những bệnh nhân dương tính bộ ba (đối với chất chống đông máu dạng lupus, kháng thể kháng cardiolipin và kháng thể kháng beta 2-glycoprotein I), điều trị bằng DOAC có thể làm tăng tỷ lệ biến cố huyết khối tái phát so với điều trị bằng thuốc kháng vitamin K.

    Bệnh nhân rung nhĩ không do bệnh van tim điều trị PCI có đặt stent

    Dữ liệu lâm sàng có sẵn từ một nghiên cứu can thiệp với mục tiêu chính là đánh giá mức độ an toàn ở bệnh nhân rung nhĩ không do bệnh van tim đã trải qua PCI có đặt stent. Dữ liệu về hiệu quả trong nhóm này còn hạn chế. Không có dữ liệu nào về những bệnh nhân này có tiền sử đột quy/cơn thiếu máu cục bộ thoáng qua (TIA).

    Bệnh nhân PE không ổn định về huyết động hoặc bệnh nhân cần tiêu huyết khối hoặc phẫu thuật lấy huyết khối ở phổi

    Rivaroxaban không được khuyến cáo thay thế cho heparin không phân đoạn ở bệnh nhân thuyên tắc phổi không ổn định về huyết động hoặc có thể được làm tan huyết khối hoặc phẫu thuật lấy huyết khối ở phổi vì chưa xác định được tính an toàn và hiệu quả của rivaroxaban trong các tình huống lâm sàng này.

    Gây tê hoặc chọc dò tủy sống/ngoài màng cứng

    Khi gây tê thần kinh (gây tê tủy sống/ngoài màng cứng) hoặc chọc dò tủy sống/ngoài màng cứng, bệnh nhân được điều trị bằng thuốc chống huyết khối để ngăn ngừa biến chứng huyết khối có nguy cơ phát triển tụ máu ngoài màng cứng hoặc tủy sống, có thể dẫn đến liệt lâu dài hoặc vĩnh viễn. Nguy cơ xảy ra các biến cố này có thể tăng lên do sử dụng catheter gây tê ngoài màng cứng sau phẫu thuật hoặc sử dụng đồng thời các thuốc có ảnh hưởng đến quá trình cầm máu. Nguy cơ cũng có thể tăng lên do chấn thương hoặc nhiều lần chọc dò ngoài màng cứng hoặc tủy sống. Bệnh nhân phải được theo dõi thường xuyên về các dấu hiệu và triệu chứng suy giảm thần kinh (ví dụ như tê hoặc yếu chân, rối loạn chức năng ruột hoặc bàng quang). Nếu tốn thương thần kinh được ghi nhận, cần chẩn đoán và điều trị khẩn cấp. Trước khi can thiệp thần kinh, bác sĩ nên cân nhắc giữa lợi ích tiềm năng so với nguy cơ ở bệnh nhân điều trị chống đông máu hoặc bệnh nhân được điều trị dự phòng huyết khối bằng thuốc chống động máu.

    Để giảm nguy cơ chảy máu có thể xảy ra khi sử dụng đồng thời rivaroxaban và gây tê trục thần kinh (ngoài màng cứng/tủy sống) hoặc chọc dò tủy sống, hãy xem xét đặc điểm dược động học của rivaroxaban. Đặt hoặc rút catheter ngoài màng cứng hoặc chọc dò thắt lưng được thực hiện tốt nhất khi tác dụng chống đông máu của rivaroxaban được đánh giá là thấp (xem mục Đặc tính dược lực học).

    Tuy nhiên, thời điểm chính xác để đạt được hiệu quả chống đông đủ thấp ở mỗi bệnh nhân vẫn chưa được biết.

    Để rút catheter ngoài màng cứng và dựa trên đặc điểm dược động học chung, phải cách ít nhất 2 lần thời gian bán hủy, tức là ít nhất 18 giờ ở bệnh nhân trẻ và 26 giờ ở bệnh nhân cao tuổi, sau lần dùng rivaroxaban cuối cùng.

    Sau khi rút ống thông, phải cách ít nhất 6 giờ trước khi dùng liều rivaroxaban tiếp theo.

    Nếu có chấn thương do chọc dò, trì hoãn sử dụng rivaroxaban trong 24 giờ.

    Không có dữ liệu về thời điểm đặt hoặc tháo ống thông trục thần kinh ở trẻ em khi dùng rivaroxaban. Trong những trường hợp như vậy, hãy ngừng dùng rivaroxaban và xem xét dùng thuốc chống đông máu đường tiêm tác dụng ngắn.

    Khuyến cáo về liều lượng trước và sau khi thực hiện các thủ thuật xâm lấn và can thiệp phẫu thuật

    Nếu cần phải tiến hành một thủ thuật xâm lấn hoặc can thiệp phẫu thuật, nên ngừng dùng rivaroxaban ít nhất 24 giờ trước khi can thiệp, nếu có thể và dựa trên đánh giá lâm sàng của bác sĩ.

    Nếu không thể trì hoãn thủ thuật, nên đánh giá tình trạng tăng nguy cơ chảy máu so với mức độ khẩn cấp của can thiệp.

    Rivaroxaban nên được bắt đầu lại càng sớm càng tốt sau khi tiến hành thủ thuật xâm lấn hoặc can thiệp phẫu thuật với điều kiện tình trạng lâm sàng cho phép và đã được cầm máu đầy đủ theo quyết định của bác sĩ điều trị.

    Người già

    Tuổi càng cao có thể làm tăng nguy cơ xuất huyết.

    Phản ứng trên da

    Các phản ứng nghiêm trọng trên da, bao gồm hội chứng Stevens-Johnson/hoại tử biểu bì nhiễm độc và hội chứng DRESS, đã được báo cáo trong quá trình giám sát sau lưu hành liên quan đến việc sử dụng rivaroxaban.

    Những bệnh nhân có nguy cơ cao nhất gặp phải những phản ứng sớm như sau trong quá trình điều trị: Khởi phát của phản ứng xảy ra ở phần lớn các trường hợp trong những tuần đầu điều trị. Nên ngừng dùng rivaroxaban khi phản ứng trên da trở nên nghiêm trọng (ví dụ: Lan rộng, dữ dội và/hoặc phồng rộp), hoặc bất kỳ dấu hiệu mẫn cảm nào khác kèm theo tổn thương niêm mạc.

    Thông tin về tá dược

    Thuốc có chứa lactose. Không nên dùng thuốc cho các bệnh nhân có các vấn đề di truyền hiếm gặp về không dung nạp galactose, thiếu hụt lactase toàn phần hoặc kém hấp thu glucose-galactose.

    Thuốc này có chứa dưới 1mmol (23 mg) natri trong mỗi viên, về cơ bản được xem như “không chứa natri".

    Ảnh hưởng của thuốc lên khả năng lái xe và vận hành máy móc

    Rivaroxaban có ảnh hưởng nhỏ đến khả năng lái xe và sử dụng máy móc. Các phản ứng có hại như ngất (tần suất: Không phổ biến) và chóng mặt (tần suất: Phố biến) đã được báo cáo. Những bệnh nhân gặp phải những phản ứng bất lợi này không nên lái xe hoặc sử dụng máy móc.

    Sử dụng thuốc cho phụ nữ trong thời kỳ mang thai và cho con bú

    Phụ nữ có thai

    Chưa xác định được tính an toàn và hiệu quả của rivaroxaban ở phụ nữ có thai. Các nghiên cứu trên động vật cho thấy độc tính sinh sản. Do khả năng gây độc cho sinh sản, nguy cơ chảy máu nội tại và bằng chứng cho thấy rivaroxaban đi qua nhau thai, rivaroxaban bị chống chỉ định trong thời kỳ mang thai.

    Phụ nữ có kế hoạch sinh con nên tránh mang thai trong khi điều trị bằng rivaroxaban.

    Phụ nữ đang cho con bú

    Tính an toàn và hiệu quả của rivaroxaban chưa được xác định ở phụ nữ đang cho con bú. Dữ liệu từ động vật cho thấy rivaroxaban được tiết vào sữa. Do đó, rivaroxaban được chống chỉ định trong thời kỳ cho con bú (xem mục Chống chỉ định). Phải đưa ra quyết định ngừng cho con bú hay ngừng/bỏ điều trị.

    Khả năng sinh sản

    Không có nghiên cứu cụ thể nào với rivaroxaban ở người được thực hiện để đánh giá ảnh hưởng đến khả năng sinh sản. Trong một nghiên cứu về khả năng sinh sản ở chuột đực và cái, không thấy ảnh hưởng nào.

    Tương tác thuốc

    Mức độ tương tác ở trẻ em chưa được biết. Dữ liệu tương tác được đề cập dưới đây được thu thập ở người lớn và cần tính đến các cảnh báo trong mục Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc đối với trẻ em.

    Chất ức chế CYP3A4 và P-gp

    Dùng đồng thời rivaroxaban với ketoconazole (400 mg x 1 lần/ngày) hoặc ritonavir (600 mg x 2 lần/ngày) dẫn đến AUC trung bình của rivaroxaban tăng 2,6 lần/2,5 lần và Cmax trung bình của rivaroxaban tăng 1,7 lần/1,6 lần, gia tăng đáng kể tác dụng dược lực học, có thể dẫn đến tăng nguy cơ chảy máu. Do đó, không khuyến cáo sử dụng rivaroxaban ở những bệnh nhân đang điều trị toàn thân đồng thời với thuốc kháng nấm azol như ketoconazol, itraconazol, voriconazol và posaconazol hoặc các chất ức chế protease HIV. Các hoạt chất này là chất ức chế mạnh cả CYP3A4 và P-gp.

    Các hoạt chất chỉ ức chế mạnh một trong các con đường thải trừ rivaroxaban, hoặc CYP3A4 hoặc P-gp, được cho là sẽ làm tăng nồng độ rivaroxaban trong huyết tương ở mức độ thấp hơn. Ví dụ, clarithromycin (500 mg x 2 lần/ngày), được coi là chất ức chế CYP3A4 mạnh và chất ức chế P-gp trung bình, dẫn đến tăng 1,5 lần AUC trung bình và tăng 1,4 lần Cmax trung bình của rivaroxaban. Tương tác với clarithromycin có thể không liên quan về mặt lâm sàng ở hầu hết bệnh nhân nhưng có thể có ý nghĩa ở những bệnh nhân có nguy cơ cao. (Đối với bệnh nhân suy thận: Xem mục Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc).

    Erythromycin (500 mg x 3 lần/ngày), ức chế vừa phải CYP3A4 và P-gp, dẫn đến tăng 1,3 lần AUC và Cmax trung bình của rivaroxaban.

    Tương tác với erythromycin có thế không liên quan về mặt lậm sàng ở hầu hết bệnh nhân nhưng có thể có ý nghĩa ở những bệnh nhân có nguy cơ cao.

    Ở những bệnh nhân suy thận nhẹ, erythromycin (500 mg x 3 lần/ngày) làm tăng 1,8 lần AUC trung bình và tăng 1,6 lần Cmax trung bình của rivaroxaban khi so sánh với những người có chức năng thận bình thường. Ở những bệnh nhân suy thận mức độ trung bình, erythromycin làm tăng AUC trung bình của rivaroxaban gấp 2 lần và Cmax của rivaroxaban tăng gấp 1,6 lần so với những người có chức năng thận bình thường. Tác dụng của erythromycin phụ thuộc vào tình trạng suy thận (xem mục Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc).

    Fluconazol (400 mg x 1 lần/ngày), được coi là chất ức chế CYP3A4 vừa phải, làm tăng 1,4 lần AUC trung bình và tăng 1,3 lần Cmax trung bình của rivaroxaban. Tương tác với fluconazol có thể không liên quan về mặt lâm sàng ở hầu hết bệnh nhân nhưng có thể có ý nghĩa ở những bệnh nhân có nguy cơ cao. (Đối với bệnh nhân suy thận: Xem mục Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc).

    Do dữ liệu lâm sàng hạn chế với dronedaron, nên tránh dùng đồng thời với rivaroxaban.

    Thuốc chống đông máu

    Sau khi dùng kết hợp enoxaparin (40 mg liều duy nhất) với rivaroxaban (10 mg liều duy nhất), tác dụng phụ trên hoạt tính của kháng yếu tố Xa đã được quan sát thấy mà không có bất kỳ tác dụng bổ sung nào trên các xét nghiệm đông máu (PT, aPTT). Enoxaparin không ảnh hưởng đến dược động học của rivaroxaban.

    Do nguy cơ chảy máu tăng cao, cần thận trọng nếu bệnh nhân được điều trị đồng thời với bất kỳ thuốc chống đông máu nào khác.

    NSAIDs/chất ức chế kết tập tiểu cầu

    Không quan sát thấy sự kéo dài thời gian chảy máu có liên quan về mặt lâm sàng sau khi dùng đồng thời rivaroxaban (15 mg) và 500 mg naproxen. Tuy nhiên, có thể có những người có phản ứng dược lực học rõ rệt hơn.

    Không quan sát thấy tương tác dược động học hoặc dược lực học có ý nghĩa lâm sàng khi rivaroxaban được dùng đồng thời với 500 mg acid acetylsalicylic.

    Clopidogrel (liều khởi đầu 300 mg sau đó là liều duy trì 75 mg) không cho thấy tương tác dược động học với rivaroxaban (15 mg) nhưng sự gia tăng thời gian chảy máu có liên quan được quan sát thấy ở một nhóm nhỏ bệnh nhân không liên quan đến kết tập tiểu cầu, P-selectin hoặc mức độ thụ thể GPIIb/Illa.

    Cần thận trong nếu bệnh nhân được điều trị đồng thời với NSAID (bao gồm cả acid acetylsalicylic) và chất ức chế kết tập tiểu cầu vì những sản phẩm thuốc này thường làm tăng nguy cơ chảy máu (xem mục Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc)

    SSRI/SNRI

    Cũng như các thuốc chống đông máu khác, có thể có khả năng bệnh nhân bị tăng nguy cơ chảy máu trong trường hợp sử dụng đồng thời với SSRI hoặc SNRI do tác dụng của chúng trên tiểu cầu đã được báo cáo. Khi sử dụng đồng thời rivaroxaban trong nghiên cứu lâm sàng, tỷ lệ xuất huyết nặng hoặc không liên quan đến lâm sàng cao hơn về số lượng đã được quan sát thấy ở tất cả các nhóm điều trị.

    Warfarin

    Chuyển đổi bệnh nhân từ sử dụng thuốc đối kháng vitamin K warfarin (INR 2,0 đến 3,0) sang rivaroxaban (20 mg) hoặc từ rivaroxaban (20 mg) sang warfarin (INR 2,0 đến 3,0) làm tăng thời gian prothrombin/INR (Neoplastin) nhiều hơn so với bổ sung (có thể quan sát thấy các giá trị INR riêng lẻ lên đến 12), trong khi đối với những tác động trên aPTT thì sự ức chế hoạt động của yếu tố Xa và tiềm năng thrombin nội sinh có tác dụng cộng thêm.

    Nếu muốn kiểm tra tác dụng dược lực học của rivaroxaban trong giai đoạn chuyển đổi, có thể sử dụng hoạt tính kháng yếu tố Xa, PiCT, và Heptest vì những thử nghiệm này không bị ảnh hưởng bởi warfarin. Vào ngày thứ tư sau liều warfarin cuối cùng, tất cả các xét nghiệm (bao gồm PT, aPTT, sự ức chế của hoạt tính của yếu tố Xa và ETP) chỉ phản ánh tác dụng của rivaroxaban.

    Nếu muốn kiểm tra tác dụng dược lực học của warfarin trong thời gian chuyển đổi, việc đo lường INR có thể được sử dụng tại Ctrough của rivaroxaban (24 giờ sau khi uống liều rivaroxaban trước đó) vì thử nghiệm này bị ảnh hưởng rất ít bởi rivaroxaban tại thời điểm này.

    Không có tương tác dược động học nào được ghi nhận giữa warfarin và rivaroxaban.

    Chất cảm ứng CYP3A4

    Sử dụng đồng thời rivaroxaban với rifampicin là chất gây cảm ứng CYP3A4 mạnh dẫn đến giảm gần 50% AUC trung bình của rivaroxaban, song song với việc giảm tác dụng dược lực học của nó. Việc sử dụng đồng thời rivaroxaban với các chất cảm ứng CYP3A4 mạnh khác (ví dụ như phenytoin, carbamazepin, phenobarbital hoặc St. John's Wort (Hypericum perforatum)) cũng có thể dẫn đến giảm nồng độ rivaroxaban trong huyết tương. Do đó, nên tránh sử dụng đồng thời các chất cảm ứng CYP3A4 mạnh trừ khi bệnh nhân được theo dõi chặt chẽ các dấu hiệu và triệu chứng của huyết khối.

    Các liệu pháp đồng thời khác

    Không quan sát thấy tương tác dược động học hoặc dược lực học có ý nghĩa lâm sàng nào khi rivaroxaban được dùng đồng thời với midazolam (chất nền của CYP3A4), digoxin (chất nền của P-gp), atorvastatin (chất nền của CYP3A4 và P-gp) hoặc omeprazole (chất ức chế bơm proton). Rivaroxaban không ức chế cũng không gây ra bất kỳ đồng dạng CYP chính nào như CYP3A4.

    Không quan sát thấy tương tác có liên quan về mặt lâm sàng với thức ăn.

    Thông số phòng thí nghiệm

    Các thông số đông máu (ví dụ: PT, aPTT, HepTest) bị ảnh hưởng như đã biết do phương thức hoạt động của rivaroxaban.

    Bảo quản

    Để nơi mát, tránh ánh sáng, nhiệt độ dưới 30⁰C.

    Để xa tầm tay trẻ em, đọc kỹ hướng dẫn sử dụng trước khi dùng.

    Mọi thông tin trên đây chỉ mang tính chất tham khảo. Việc sử dụng thuốc phải tuân theo hướng dẫn của bác sĩ chuyên môn.

    Dược sĩ Đại học Trần Huỳnh Minh NhậtĐã kiểm duyệt nội dung

    Dược sĩ chuyên khoa Dược lý - Dược lâm sàng. Tốt nghiệp 2 trường đại học Mở và Y Dược TP. Hồ Chí Minh. Có kinh nghiệm nghiên cứu về lĩnh vực sức khỏe, đạt được nhiều giải thưởng khoa học. Hiện là Dược sĩ chuyên môn phụ trách xây dựng nội dung và triển khai dự án đào tạo - Hội đồng chuyên môn tại Nhà thuốc Long Châu.

    Xem thêm thông tin

    Câu hỏi thường gặp

    • Dược lực học là gì?

    • Dược động học là gì?

    • Tác dụng phụ của thuốc là gì? Cách phòng tránh tác dụng phụ của thuốc

    • Sử dụng thuốc đúng cách như thế nào?

    • Các dạng bào chế của thuốc?

    Đánh giá sản phẩm

    Hãy sử dụng sản phẩm và trở thành người đầu tiên đánh giá trải nghiệm nha.

    Hỏi đáp (0 bình luận)

    Lọc theo:

    Mới nhất
    Cũ nhất
    Hữu ích nhất
    • HA

      hoang anh

      xin giá sp này ạ
      6 giờ trước

      Hữu ích

      Trả lời
      • Nguyễn Thị Thuỳ LinhDược sĩ

        Chào anh Hoàng Anh,

        Dạ nhà thuốc có hỗ trợ tư vấn ạ.

        Anh vui lòng kiểm tra tin nhắn để Tư vấn viên nhà thuốc Long Châu hỗ trợ thêm ạ.

        6 giờ trước

        Hữu ích

        Trả lời
    • CT

      Chị Thu

      loai nay gia bao nhieu
      1 tháng trước

      Hữu ích

      Trả lời
      • Ngô Nhật TânDược sĩ

        Chào chị Thu

        Dạ nhà thuốc có hỗ trợ tư vấn ạ.

        Tư vấn viên nhà thuốc Long Châu sẽ sớm liên hệ với chị qua số điện thoại đã cung cấp để hỗ trợ thêm ạ.

        1 tháng trước

        Hữu ích

        Trả lời