Thuốc Famatar 50 được chỉ định trong đơn trị hoặc phối hợp điều trị động kinh ở người lớn và trẻ em, cũng như dự phòng chứng đau nửa đầu ở người lớn.
Số đăng ký
Quy cách
Thành phần
Xem tất cả thông tin
Lưu ý: Sản phẩm này chỉ bán khi có chỉ định của bác sĩ, mọi thông tin trên Website chỉ mang tính chất tham khảo.
Thuốc Famatar 50mg là gì?
Mặc định
Lớn hơn
Thuốc Famatar 50 chỉ định điều trị trong các trường hợp sau:
Nhóm dược lý: Thuốc chống động kinh khác.
Mã ATC: N03AX11.
Topiramat được xếp loại là một monosaccharid được thay thế gốc sulfamat. Cơ chế chính xác giúp topiramat có hiệu quả trong chống co giật và dự phòng đau nửa đầu chưa được biết rõ. Các nghiên cứu sinh hoá và điện sinh lý trên các nơron được nuôi cấy đã xác định ba đặc tính có thể góp phần vào hiệu quả chống động kinh của topiramat. Các điện thế hoạt động được lặp đi lặp lại bởi sự khử cực kéo dài của nơron bị ức chế bởi topiramat theo kiểu lệ thuộc thời gian, dẫn đến tác động chẹn kênh natri tùy thuộc trạng thái. Topiramat làm tăng tần suất mà tại đó các thụ thể GABA, được hoạt hoá bởi gamma - aminobutyrat (GABA) và làm tăng khả năng của GABA để tạo ra luồng ion clorid đi vào trong các nơron, cho thấy rằng topiramat làm tăng hoạt tính của các chất dẫn truyền thần kinh ức chế.
Tác động này không bị ức chế bởi flumazenil, một chất đối kháng với benzodiazepin và topiramat cũng không làm tăng thời gian mở kênh, khác biệt giữa topiramat và các barbiturat là điều chỉnh thụ thể GABAA.
Vì đặc tính chống động kinh của topiramat khác biệt hoàn toàn với tính chất của các benzodiazepin, nên topiramat có thể điều chỉnh một dưới nhóm (substype) của thụ thể GABAA kém nhạy cảm với benzodiazepin. Topiramat làm mất khả năng của kainat gây hoạt hóa kainat/AMPA (alpha-amino-3-hydroxy-5-methyl-isoxazol-4-propionic acid), là một dưới nhóm (subtype) của thụ thể amino acid (glutamat) kích thích, nhưng lại không có tác dụng rõ ràng trên hoạt tính của N-methyl-D-aspartat (NMDA) tại dưới nhóm (subtype) của thụ thể NMDA. Những tác dụng này của topiramat phụ thuộc nồng độ, trong khoảng nồng độ từ 1 mcM tới 200 mcM, với hoạt tính ít nhất quan sát được là ở nồng độ 1 mcM tới 10 mcM. Ngoài ra, topiramat ức chế một vài isoenzym của anhydrase carbonic. Tác dụng dược lý này của topiramat yếu hơn nhiều so với tác dụng của acetazolamid, là chất ức chế anhydrase carbonic đã được biết và không được cho là một cơ chế chính của hoạt tính chống động kinh của topiramat.
Đặc tính dược động học của topiramat khi so sánh với các thuốc chống động kinh khác cho thấy topiramat có thời gian bán hủy trong huyết tương dài, dược động học tuyến tính, phần lớn là thanh thải ở thận, không có gắn kết đáng kể với protein và không có các chất chuyển hoá có hoạt tính liên quan về lâm sàng.
Topiramat không phải là một chất cảm ứng mạnh với các enzym chuyển hoá thuốc, có thể dùng cùng hoặc không cùng bữa ăn và không cần phải kiểm tra định kỳ nồng độ của topiramat trong huyết tương. Trong các nghiên cứu lâm sàng, không có mối quan hệ nhất quán nào giữa nồng độ của thuốc trong huyết tương với hiệu quả của thuốc hoặc tác dụng không mong muốn.
Hấp thu
Topiramat hấp thu tốt và nhanh. Sau khi uống 100 mg topiramat, người khỏe mạnh có nồng độ đỉnh trung bình trong huyết tương (Cmax) là 1,5 mcg/mL đạt được trong vòng 2 đến 3 giờ (Tmax). Dựa trên sự thu hồi lại hoạt tính phóng xạ từ nước tiểu, thấy phạm vi hấp thu trung bình của 100 mg liều uống 14C-topiramat ít nhất là 81%. Thức ăn không có tác động đáng kể về mặt lâm sàng trên sinh khả dụng của topiramat.
Phân bố
Nhìn chung, có khoảng 13 - 17% topiramat gắn kết với protein huyết tương. Một vị trí có khả năng gắn kết thấp cho topiramat trong/trên hồng cầu và bão hòa với nồng độ trong huyết tương 4 mcg/mL đã được biết. Thể tích phân bố biến đổi tỷ lệ nghịch với liều dùng. Thể tích biểu kiến trung bình của sự phân bố thuốc là 0,80 - 0,55 L/kg khi dùng liều duy nhất từ 100 – 1200 mg. Giới tính được phát hiện có ảnh hưởng đến thể tích phân bố của thuốc, giá trị với nữ giới khoảng 50% so với của nam giới. Điều này được cho là do phần trăm chất béo trong cơ thể của bệnh nhân nữ cao hơn và điều này không có ý nghĩa lâm sàng.
Chuyển hóa
Topiramat không được chuyển hóa nhiều (≈ 20%) ở người tình nguyện khỏe mạnh. Topiramat được chuyển hóa đến 50% ở những bệnh nhân dùng đồng thời với các thuốc chống động kinh là những chất gây cảm ứng các enzym chuyển hóa thuốc. Sáu chất chuyển hóa hình thành qua sự hydroxyl hóa, thủy phân và glucuro - liên hợp đã được cô lập, định tính từ huyết tương, nước tiểu và phân. Mỗi chất chuyển hoá có mặt dưới 3% của tổng số hoạt tính phóng xạ bài tiết sau khi dùng 14C-topiramat. Hai chất chuyển hoá gần như vẫn còn giữ cấu trúc của topiramat được thử nghiệm và nhận thấy còn một ít hay không có hoạt tính chống co giật.
Thải trừ
Ở người, con đường thải trừ chính của topiramat dạng không đổi và các chất chuyển hoá của nó là qua thận (ít nhất là 81% của liều dùng). Khoảng 66% của liều dùng 14C-topiramat được bài tiết dưới dạng không đổi trong nước tiểu trong vòng 4 ngày. Sau khi dùng liều 50 mg và 100 mg topiramat hai lần/ngày, sự thanh thải ở thận trung bình tương ứng khoảng 18 mL/phút và 17 mL/phút. Có bằng chứng về sự tái hấp thu qua ống thận của topiramat. Bằng chứng này được hỗ trợ bởi các nghiên cứu ở chuột cống dùng đồng thời topiramat và probenecid và quan sát thấy sự thanh thải qua thận của topiramat tăng đáng kể. Nói chung, sự thanh thải huyết tương khoảng 20 - 30 mL/phút ở người sau khi uống topiramat. Topiramat có sự thay đổi nồng độ trong huyết tương giữa những cá thể khác nhau thấp và vì vậy có thể đoán trước được dược động học. Dược động học của topiramat tuyến tính với sự thanh thải còn ổn định của huyết tương và diện tích dưới đường cong của nồng độ trong huyết tương tăng tỉ lệ với liều duy nhất 100 đến 400 mg ở người khỏe mạnh. Người bệnh có chức năng thận bình thường có thể mất 4 đến 8 ngày để đạt được nồng độ trong huyết tương ở trạng thái hằng định. Cmax trung bình là 6,76 mcg/mL sau khi dùng đa liều 100 mg/hai lần/ngày ở người khỏe mạnh. Sau khi dùng đa liều 50 mg và 100 mg/hai lần/ngày, thời gian bán thải trung bình trong huyết tương là khoảng 21 giờ.
Thuốc Famatar 50 dùng đường uống, uống nguyên viên và không phụ thuộc vào bữa ăn.
Không cần thiết phải kiểm soát nồng độ topiramat trong huyết tương để tối ưu hóa điều trị với topiramat. Trong những trường hợp hiếm, sử dụng thêm topiramat với phenytoin có thể cần điều chỉnh liều phenytoin để đạt được hiệu quả lâm sàng tối ưu. Có thể cần điều chỉnh liều topiramat nếu thêm vào hoặc ngừng phenytoin và carbamazepin trong điều trị phối hợp với topiramat.
Nên khởi đầu liều thấp và chỉnh liều sau đó để đạt được mức liều có hiệu quả.
Động kinh – Điều trị phối hợp
Người lớn
Nên khởi đầu với liều 25 đến 50 mg vào mỗi buổi tối trong một tuần. Đã có báo cáo việc sử dụng liều khởi đầu thấp hơn nhưng chưa được nghiên cứu một cách hệ thống. Sau đó, cách mỗi một tuần hoặc mỗi hai tuần, nên tăng liều thêm 25 đến 50 mg/ngày và chia làm 2 lần uống mỗi ngày. Việc chỉnh liều phải dựa vào đáp ứng lâm sàng.
Một số bệnh nhân có thể đạt hiệu quả điều trị khi dùng liều 1 lần/ngày. Trong các thử nghiệm lâm sàng khi điều trị phối hợp, mức liều 200 mg/ngày là có hiệu quả và là liều thấp nhất được nghiên cứu. Vì vậy, liều này có thể được xem như là liều tối thiểu đạt hiệu quả.
Liều dùng thông thường hằng ngày là 200 đến 400 mg, chia làm hai lần. Một số bệnh nhân có thể được dùng liều cao đến 1600 mg/ngày.
Các khuyến cáo về liều dùng này áp dụng cho tất cả người lớn, kể cả người cao tuổi nếu không có bệnh về thận (xem "Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc").
Trẻ em từ 2 tuổi trở lên
Tổng liều dùng hằng ngày của topiramat khi điều trị phối hợp được khuyến cáo khoảng 5 đến 9 mg/kg/ngày, chia làm hai lần.
Việc chỉnh liều nên được khởi đầu bằng 25 mg (hoặc thấp hơn, dựa trên liều từ 1 đến 3 mg/kg/ngày) vào mỗi tối trong tuần đầu tiên. Sau đó để đạt được đáp ứng lâm sàng tối ưu, sau cách mỗi 1 hoặc 2 tuần nên tăng liều trong giới hạn khoảng 1 đến 3 mg/kg/ngày (chia làm hai lần uống). Việc chỉnh liều nên dựa trên đáp ứng lâm sàng.
Liều dùng hằng ngày lên tới 30 mg/kg/ngày đã được nghiên cứu và được dung nạp tốt.
Động kinh – Đơn trị liệu
Khi ngừng các thuốc chống động kinh phối hợp để đạt được đơn trị liệu bằng topiramat, nên xem xét đến những tác động có thể có của việc này trên kiểm soát cơn động kinh. Liều của các thuốc chống động kinh phối hợp được khuyến cáo giảm từ từ với tỷ lệ khoảng 1/3 mỗi hai tuần, trừ khi cần phải ngừng ngay các thuốc chống động kinh phối hợp vì liên quan đến tính an toàn (xem "Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc").
Khi ngừng các thuốc gây cảm ứng enzym, nồng độ của topiramat sẽ tăng. Có thể cần phải giảm liều topiramat nếu có chỉ định lâm sàng.
Người lớn
Sự chỉnh liều nên khởi đầu từ liều 25 mg dùng mỗi buổi tối trong một tuần. Sau đó, cách mỗi 1 tuần hoặc mỗi hai tuần, nên tăng liều thêm 25 hoặc 50 mg/ngày và chia làm 2 lần uống.
Nếu bệnh nhân không thể dung nạp với chế độ chỉnh liều trên, có thể tăng liều ít hơn hoặc kéo dài hơn khoảng thời gian giữa các lần tăng liều. Liều và tốc độ chỉnh liều nên dựa trên đáp ứng lâm sàng.
Liều khởi đầu khuyến cáo khi đơn trị liệu bằng topiramat ở người lớn khoảng 100 đến 200 mg/ngày, chia làm 2 lần.
Liều tối đa được khuyến cáo là 500 mg/ngày, chia làm 2 lần. Một số bệnh nhân động kinh thể kháng trị dung nạp tốt với topiramat ở liều 1000 mg/ngày trong đơn trị liệu.
Các liều khuyến cáo này áp dụng cho tất cả người lớn, kể cả người cao tuổi nếu không có bệnh về thận.
Trẻ em từ 6 tuổi trở lên
Trẻ em từ 6 tuổi trở lên nên bắt đầu với liều 0,5 đến 1 mg/kg vào buổi tối trong tuần đầu tiên. Sau đó, cách mỗi 1 hoặc 2 tuần, tăng liều khoảng 0,5 đến 1 mg/kg/ngày, chia làm hai lần uống.
Nếu trẻ không thể dung nạp với chế độ chỉnh liều trên, thì nên tăng liều ít hơn hoặc kéo dài khoảng thời gian giữa các lần tăng liều. Liều và tốc độ chỉnh liều nên dựa trên đáp ứng lâm sàng.
Liều khởi đầu khuyến cáo khi đơn trị liệu bằng topiramat ở trẻ em từ 6 tuổi trở lên trong khoảng 100 đến 400 mg/ngày.
Trẻ em mới được chẩn đoán cơn động kinh khởi phát cục bộ đã được dùng liều lên đến 500 mg/ngày.
Đau nửa đầu
Người lớn
Tổng liều khuyến dùng mỗi ngày của topiramat trong điều trị dự phòng đau nửa đầu là 100 mg/ngày, chia làm 2 lần. Sự chỉnh liều nên khởi đầu bằng liều 25 mg dùng mỗi tối trong một tuần. Sau đó mỗi tuần nên tăng thêm 25 mg/ngày. Nếu bệnh nhân không thể dung nạp với chế độ chỉnh liều như vậy thì nên kéo dài hơn khoảng thời gian giữa các lần điều chỉnh liều. Ở một số bệnh nhân có thể đáp ứng với tổng liều hằng ngày 50 mg/ngày. Một số bệnh nhân đã sử dụng tổng liều hằng ngày lên đến 200 mg/ngày. Liều và tốc độ chỉnh liều nên dựa trên đáp ứng lâm sàng.
Đối tượng đặc biệt
Suy thận
Ở những bệnh nhân suy thận (độ thanh thải creatinin < 70 mL/phút), nên thận trọng khi dùng topiramat bởi độ thanh thải của topiramat ở thận và huyết tương giảm. Bệnh nhân suy thận cần thời gian dài hơn để đạt tới trạng thái hằng định tại mỗi mức liều. Khuyến cáo giảm một nửa liều khởi đầu và liều duy trì.
Ở những bệnh nhân suy thận giai đoạn cuối, vì topiramat bị loại khỏi huyết tương khi chạy thận nhân tạo, nên bổ sung thêm nửa liều topiramat thường dùng hằng ngày trong những ngày chạy thận. Liều bổ sung nên chia khi chạy thận nhân tạo và khi kết thúc quá trình chạy thận nhân tạo. Liều bổ sung có thể khác nhau dựa trên đặc tính thiết bị thẩm tách máu sử dụng.
Suy gan
Topiramat nên được dùng thận trọng ở bệnh nhân suy gan.
Đối với các trường hợp không phù hợp hàm lượng 50 mg, chuyển sang thuốc có hàm lượng dùng theo hướng dẫn.
Triệu chứng và dấu hiệu
Quá liều topiramat đã được báo cáo. Dấu hiệu và triệu chứng bao gồm: Co giật, buồn ngủ, rối loạn ngôn ngữ, nhìn mờ, nhìn đôi, sa sút tinh thần, lờ đờ, bất thường phối hợp, sững sờ, hạ huyết áp, đau bụng, kích động, choáng váng và trầm cảm. Hầu hết các trường hợp, tiến triển lâm sàng không trầm trọng ngoại trừ những trường hợp tử vong được báo cáo sau khi sử dụng quá liều nhiều thuốc có bao gồm topiramat.
Quá liều topiramat có thể gây nên toan chuyển hóa. Báo cáo quá liều topiramat cao nhất được tính vào khoảng 96 và 110 g topiramat và dẫn đến hôn mê kéo dài 20 - 24 giờ, sau đó phục hồi hoàn toàn sau 3 đến 4 ngày.
Điều trị
Trong trường hợp quá liều cấp, nếu bệnh nhân vừa mới uống vào, nên làm trống dạ dày ngay bằng cách rửa dạ dày hoặc gây nôn. Than hoạt tính có khả năng hấp thụ topiramat in vitro. Nên dùng các biện pháp hỗ trợ thích hợp. Lọc máu là phương cách hữu hiệu để loại topiramat ra khỏi cơ thể. Bệnh nhân nên được bù nước đầy đủ.
Không dùng gấp đôi liều bỏ lỡ.
Mọi thông tin chỉ mang tính chất tham khảo. Việc sử dụng thuốc phải tuân theo hướng dẫn của bác sĩ chuyên môn.
Các tác dụng không mong muốn được xác định có sự liên quan với việc sử dụng topiramat một cách hợp lý dựa trên đánh giá toàn diện các thông tin từ các nghiên cứu lâm sàng hiện có sẵn. Hiệu quả và độ an toàn của topiramat không thể được thiết lập một cách tin cậy với các trường hợp riêng lẻ. Hơn nữa, bởi vì các thử nghiệm lâm sàng được thực hiện dưới các điều kiện rất riêng rẽ, tỷ lệ các tác dụng không mong muốn được quan sát thấy trong các thử nghiệm lâm sàng của thuốc không thể so sánh trực tiếp với tỷ lệ trong các thử nghiệm lâm sàng của thuốc khác và có thể không phản ánh các tỷ lệ quan sát được trong thực hành lâm sàng.
Dữ liệu sau khi lưu hành
Các tác dụng không mong muốn đầu tiên sau khi đưa thuốc ra lưu hành trên thị trường được trình bày trong Bảng 8, tần suất gặp được xếp theo quy ước sau:
Trong bảng tác dụng không mong muốn được trình bày theo thứ tự xuất hiện trong các báo cáo tự phát.
Bảng: Các tác dụng không mong muốn nhận biết sau khi lưu hành topiramat theo tần suất xảy ra từ các báo cáo tự phát
| Hệ thống cơ quan | Rất thường gặp | Thường gặp | Ít gặp | Hiếm | Rất hiếm |
|---|---|---|---|---|---|
| Nhiễm trùng và nhiễm ký sinh trùng | Viêm mũi họng | ||||
| Rối loạn máu và hệ bạch huyết | Giảm bạch cầu trung tính | ||||
| Rối loạn hệ thống miễn dịch | Phù nề do dị ứng | ||||
| Rối loạn chuyển hóa và dinh dưỡng | Tăng amoniac huyết; Bệnh não do tăng amoniac huyết | ||||
| Rối loạn tâm thần | Cảm giác tuyệt vọng | ||||
| Rối loạn mắt | Dị cảm ở mắt; Tăng nhãn áp góc đóng; Phù kết mạc; Rối loạn cử động mắt; Phù mi mắt; Bệnh lý vùng điểm vàng; Cận thị | ||||
| Rối loạn hô hấp, lồng ngực và trung thất | Ho | ||||
| Rối loạn da và mô dưới da | Ban đỏ da dạng; Phù nề quanh hốc mắt; Hội chứng Stevens–Johnson; Hoại tử da nhiễm độc | ||||
| Rối loạn cơ xương và mô liên kết | Sưng khớp; Khó chịu ở chi | ||||
| Rối loạn thận và hệ tiết niệu | Nhiễm toan ống thận | ||||
| Rối loạn toàn thân và tình trạng tại nơi dùng thuốc | Phù nề toàn thân; Ốm dạng bệnh cúm | ||||
| Các chỉ số khác | Tăng cân |
Thông báo ngay cho bác sĩ hoặc dược sĩ nếu gặp phải những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.
Thuốc Famatar 50 chống chỉ định trong các trường hợp sau:
Ngưng thuốc topiramat
Trên những bệnh nhân có hay không có tiền sử co cơn co giật hay động kinh, phải ngừng từ từ các thuốc chống động kinh, bao gồm cả topiramat, nhằm giảm thiểu nguy cơ bị cơn co giật hoặc nguy cơ tăng tần số cơn co giật.
Trong các thử nghiệm lâm sàng, cứ mỗi một tuần lại giảm liều uống hằng ngày 50–100 mg đối với người lớn mắc động kinh và 25–50 mg đối với người lớn đang dùng topiramat đến 100 mg/ngày để dự phòng đau nửa đầu.
Trong các thử nghiệm lâm sàng trên trẻ em, topiramat được giảm liều từ từ trong khoảng thời gian 2–8 tuần.
Trong những trường hợp mà vì lý do y khoa nên buộc phải ngừng topiramat nhanh chóng, khuyến cáo phải theo dõi một cách thích hợp.
Suy thận
Đường bài tiết chủ yếu của topiramat dạng không đổi và các chất chuyển hóa của nó là thận. Sự thải trừ qua thận phụ thuộc chức năng của thận và không phụ thuộc vào tuổi tác. Những bệnh nhân bị suy thận ở mức độ trung bình hoặc nặng có thể cần 10–15 ngày để nồng độ thuốc trong huyết tương đạt được trạng thái ổn định, trong khi ở người có chức năng thận bình thường cần 4–8 ngày.
Đối với tất cả các bệnh nhân, chế độ chỉnh liều theo sự hướng dẫn bởi đáp ứng lâm sàng (chẳng hạn như kiểm soát cơn động kinh, tránh các tác dụng không mong muốn) và lưu ý người bệnh đã biết có suy thận có thể cần một thời gian dài hơn để nồng độ thuốc đạt được trạng thái hằng định tại mỗi liều.
Sự bù nước
Giảm tiết mồ hôi và không tiết mồ hôi đã được báo cáo có liên quan đến việc sử dụng topiramat. Giảm tiết mồ hôi và tăng thân nhiệt có thể xảy ra đặc biệt ở trẻ nhỏ trong môi trường nhiệt độ cao. Việc uống nước đầy đủ trong khi đang dùng topiramat là điều rất quan trọng. Dùng nước có thể làm giảm nguy cơ bị sỏi thận. Dùng đủ nước trước và trong các hoạt động như tập luyện hay phơi nhiễm với nhiệt độ cao có thể làm giảm nguy cơ các tác dụng không mong muốn liên quan đến tăng nhiệt.
Rối loạn khí sắc/Trầm cảm
Có sự gia tăng tỷ lệ rối loạn khí sắc và trầm cảm được ghi nhận trong thời gian điều trị với topiramat.
Tự tử/Có ý định tự tử
Tăng nguy cơ tự tử trong ý nghĩ hoặc hành vi ở những bệnh nhân sử dụng các thuốc chống động kinh, bao gồm topiramat, cho bất kỳ chỉ định nào. Một phân tích tổng hợp các thử nghiệm ngẫu nhiên, có đối chứng giả dược của các thuốc chống động kinh cho thấy tăng nguy cơ có ý định tự tử hay hành vi tự tử (0,43% ở các thuốc chống động kinh so với 0,24% ở giả dược). Cơ chế của nguy cơ này không được làm rõ.
Trong các thử nghiệm lâm sàng mù đôi, các biến cố liên quan đến tự tử (ý định tự tử, cố gắng tự tử và tự tử xảy ra với tần suất 0,5% ở bệnh nhân điều trị với topiramat (46/8652 bệnh nhân được điều trị) so với 0,2% ở điều trị với giả dược (8/4045 bệnh nhân).
Một trường hợp tự tử được báo cáo trong một thử nghiệm mù đôi ở bệnh nhân rối loạn lưỡng cực dùng topiramat. Vì vậy bệnh nhân nên được theo dõi các dấu hiệu của ý định và hành vi tự tử và cân nhắc điều trị một cách thích hợp. Nên khuyên bệnh nhân (và người nhà bệnh nhân) tìm kiếm sự hỗ trợ y tế ngay khi xuất hiện các dấu hiệu của ý định hoặc hành vi tự tử.
Sỏi thận
Một số bệnh nhân, đặc biệt là những người có khả năng bị sỏi thận, có thể tăng nguy cơ hình thành sỏi thận và bị các triệu chứng, dấu hiệu liên quan như cơn đau quặn thận, đau vùng thận hoặc đau bên hông.
Các yếu tố nguy cơ của bệnh sỏi thận gồm: tiền sử hình thành sỏi trước đó, tiền sử gia đình có bệnh sỏi thận và tăng calci niệu. Các yếu tố nguy cơ này không thể dự đoán một cách đáng tin cậy việc hình thành sỏi trong khi điều trị topiramat. Hơn nữa, bệnh nhân đang dùng thuốc khác có thể gây sỏi thận thì nguy cơ có thể tăng.
Suy gan
Ở bệnh nhân suy gan, topiramat nên được dùng thận trọng vì độ thanh thải của topiramat có thể bị giảm.
Cận thị cấp và glôcôm góc đóng thứ phát
Một hội chứng bao gồm cận thị cấp với glôcôm góc đóng thứ phát đã được báo cáo ở bệnh nhân uống topiramat. Các triệu chứng bao gồm giảm thị lực cấp kịch phát và/hoặc đau mắt. Các biểu hiện khi khám mắt bao gồm: cận thị, tiền phòng nông, xung huyết mắt (đỏ mắt) và tăng áp lực nội nhãn. Có hoặc không có giãn đồng tử. Hội chứng này có thể liên quan với tràn dịch trên mi dẫn đến dịch chuyển ra phía trước thủy tinh thể và mống mắt với glôcôm góc đóng thứ phát. Các triệu chứng điển hình thường xảy ra trong vòng 1 tháng đầu dùng topiramat.
Trái với glôcôm góc hẹp nguyên phát rất hiếm gặp ở người dưới 40 tuổi, glôcôm góc đóng thứ phát liên quan tới topiramat gặp ở cả bệnh nhi cũng như người lớn. Điều trị bao gồm ngừng topiramat càng nhanh càng tốt theo quyết định của bác sĩ điều trị và hạ nhãn áp bằng các biện pháp thích hợp. Những biện pháp này thường giúp hạ nhãn áp.
Tăng nhãn áp do bất kỳ nguyên nhân nào, nếu không được điều trị, có thể dẫn đến các biến chứng nghiêm trọng bao gồm mất thị lực vĩnh viễn.
Các khiếm khuyết thị giác
Các khiếm khuyết thị giác mà không liên quan tới tăng nhãn áp đã được báo cáo ở những bệnh nhân được điều trị bằng topiramat. Trong các thử nghiệm lâm sàng, hầu hết các biến cố này đã có thể hồi phục sau khi ngừng dùng topiramat. Nếu vấn đề về thị giác xảy ra bất cứ thời điểm nào trong suốt quá trình điều trị bằng topiramat, nên xem xét đến việc ngừng dùng thuốc.
Toan chuyển hóa
Tăng clo trong máu, không có khoảng trống anion, toan chuyển hóa (ví dụ giảm bicarbonat huyết tương dưới mức giới hạn bình thường mà không có kiềm hô hấp) có liên quan với việc điều trị với topiramat. Giảm bicarbonat huyết tương là do tác dụng ức chế của topiramat trên men carbonic anhydrase ở thận. Nhìn chung tình trạng giảm bicarbonat này xảy ra sớm trong quá trình điều trị tuy vẫn có thể xảy ra tại bất kỳ thời điểm nào trong khi điều trị.
Mức độ giảm thường từ nhẹ tới trung bình (giảm trung bình là 4 mmol/L ở liều 100 mg/ngày hay nhiều hơn ở người lớn và khoảng 6 mg/kg/ngày ở bệnh nhi). Hiếm khi mức độ giảm đến trị số còn dưới 10 mmol/L.
Các tình trạng hay việc trị liệu có thể dẫn đến nhiễm toan (như bệnh thận, rối loạn hô hấp nặng, trạng thái động kinh, tiêu chảy, phẫu thuật, chế độ ăn sinh ceton hoặc sử dụng một số thuốc nhất định) có thể làm tăng thêm tác động làm giảm bicarbonat của topiramat.
Toan chuyển hóa mạn tính ở bệnh nhi có thể làm giảm tốc độ phát triển. Ảnh hưởng của topiramat lên sự tăng trưởng và những di chứng liên quan đến xương chưa được nghiên cứu một cách hệ thống ở bệnh nhân nhi hoặc người lớn.
Phụ thuộc vào từng hoàn cảnh, các đánh giá thích hợp bao gồm đánh giá mức độ bicarbonat huyết thanh được khuyến cáo khi điều trị với topiramat. Nếu toan chuyển hóa xuất hiện và kéo dài, cần nhắc giảm liều hoặc ngừng sử dụng topiramat (ngừng liều giảm dần).
Bổ sung chất dinh dưỡng
Có thể xem xét việc dùng thực phẩm bổ sung hoặc tăng chế độ ăn nếu bệnh nhân giảm cân trong khi dùng thuốc này.
Suy giảm nhận thức
Suy giảm nhận thức trong bệnh động kinh là do nhiều yếu tố, có thể do bệnh lý nền, do bệnh động kinh hoặc do điều trị động kinh. Đã có những báo cáo trong y văn về suy giảm chức năng nhận thức ở người lớn khi điều trị với topiramat mà đôi khi cần phải giảm liều hoặc ngừng điều trị. Tuy nhiên, những nghiên cứu về tác động lên nhận thức ở trẻ em điều trị với topiramat là chưa đầy đủ và ảnh hưởng của nó cần được làm sáng tỏ.
Tăng amoniac huyết và bệnh não
Tăng amoniac huyết có hay không có liên quan đến bệnh não đã được báo cáo khi điều trị với topiramat. Nguy cơ tăng amoniac huyết khi dùng topiramat xảy ra liên quan đến liều.
Tăng amoniac huyết được báo cáo thường xuyên hơn khi dùng đồng thời topiramat với axit valproic.
Các triệu chứng lâm sàng của bệnh não do tăng amoniac huyết gồm các thay đổi cấp tính mức độ tỉnh táo và/hoặc chức năng nhận thức với biểu hiện lừ đừ hoặc hôn mê. Trong đa số các trường hợp, bệnh não do tăng amoniac huyết giảm khi ngừng điều trị.
Cần nghi ngờ tăng amoniac huyết ở bệnh nhân bị hôn mê không rõ nguyên nhân hoặc những thay đổi trạng thái tâm thần do điều trị phối hợp hoặc trị liệu với salicylat, đặc biệt khi có điều trị phối hợp với topiramat.
Cảnh báo tá dược
Thuốc này có chứa lactose. Việc sử dụng thuốc này không được khuyến cáo ở những bệnh nhân không dung nạp galactose, thiếu lactase hoặc kém hấp thu glucose-galactose bẩm sinh (bệnh di truyền hiếm gặp).
Phụ nữ có thai
Nguy cơ liên quan đến động kinh và các thuốc chống động kinh nói chung
Cần tư vấn chuyên môn cho phụ nữ có khả năng sinh sản, cần phải xem xét đến sự cần thiết phải điều trị với các thuốc chống động kinh khi đối tượng này đang dự định có thai.
Ở phụ nữ đang được điều trị bệnh động kinh, nên tránh ngừng các thuốc chống động kinh đột ngột vì điều này có thể dẫn tới các cơn co giật đột ngột có thể gây hậu quả nghiêm trọng cho mẹ và thai nhi. Bất cứ lúc nào, nếu được, nên ưu tiên biện pháp đơn trị liệu vì việc điều trị với nhiều thuốc chống động kinh hơn có thể liên quan đến nguy cơ dị tật bẩm sinh cao hơn so với dùng đơn trị liệu, tùy theo các thuốc chống động kinh dùng kết hợp.
Nguy cơ liên quan đến topiramat
Ở người, topiramat qua nhau thai và nồng độ thuốc trong máu dây rốn được báo cáo là tương tự như trong máu của người mẹ.
Dữ liệu lâm sàng từ dữ liệu quản lý thai sản chỉ ra rằng trẻ sơ sinh khi tiếp xúc với topiramat đơn trị liệu đã có:
Tăng nguy cơ dị tật bẩm sinh (đặc biệt hở môi/vòm miệng, dị tật lỗ tiểu thấp và những bất thường liên quan đến các hệ cơ quan khác nhau của cơ thể) sau khi dùng thuốc trong 3 tháng đầu thai kỳ. Dữ liệu từ Sổ đăng ký các thuốc chống động kinh Bắc Mỹ chỉ ra rằng tỷ lệ các dị tật bẩm sinh chính của nhóm dùng topiramat đơn trị liệu cao gấp 3 lần (4,3%) nhóm không dùng thuốc chống động kinh (1,4%). Ngoài ra, dữ liệu từ các nghiên cứu khác đã chỉ ra rằng, so với đơn trị liệu, nguy cơ quái thai tăng lên khi sử dụng thuốc chống động kinh trong nhóm điều trị phối hợp so với nhóm đơn trị liệu. Nguy cơ được báo cáo phụ thuộc liều; các tác dụng này được ghi nhận ở tất cả các liều. Ở phụ nữ điều trị với topiramat đã có con bị dị tật bẩm sinh, nguy cơ dị tật dường như tăng lên ở những lần mang thai tiếp theo khi dùng đơn trị liệu topiramat.
Tỷ lệ trẻ sơ sinh nhẹ cân (< 2500 g) cao hơn so với nhóm tham chiếu.
Tăng tỷ lệ trẻ nhỏ so với tuổi thai (SGA) (được định nghĩa là trọng lượng khi sinh nằm dưới mức phân vị 10 theo tuổi thai, trên biểu đồ trọng lượng đã hiệu chỉnh theo tuổi thai và theo giới tính). Không thể xác định được hậu quả lâu dài của vấn đề trẻ nhỏ so với tuổi thai.
Chỉ định động kinh
Nên xem xét các phương pháp điều trị thay thế ở phụ nữ có khả năng sinh sản. Nếu sử dụng topiramat ở phụ nữ có khả năng sinh sản, đề nghị sử dụng biện pháp tránh thai có hiệu quả cao và thông báo đầy đủ cho người mẹ về nguy cơ đã biết của thuốc chống động kinh đối với sự phát triển của thai nhi và nguy cơ tiềm tàng với bào thai do thuốc.
Nếu một phụ nữ dự định có thai, nên đi khám thai và tư vấn trước khi mang thai để đánh giá lại việc điều trị và cân nhắc các lựa chọn điều trị khác. Trong trường hợp dùng thuốc trong ba tháng đầu của thai kỳ, nên theo dõi tiền sản cẩn thận.
Chỉ định dự phòng đau nửa đầu
Topiramat chống chỉ định với phụ nữ có thai và phụ nữ trong độ tuổi sinh sản nếu không sử dụng các phương pháp tránh thai hiệu quả.
Phụ nữ cho con bú
Nghiên cứu trên động vật đã chỉ ra rằng topiramat được bài tiết trong sữa. Sự bài tiết của topiramat vào sữa mẹ chưa được đánh giá ở những thử nghiệm có đối chứng.
Ở một số ít bệnh nhân cho thấy có sự tiết nhiều topiramat vào sữa mẹ. Các tác dụng đã quan sát được ở trẻ sơ sinh bú mẹ bao gồm tiêu chảy, buồn ngủ, kích thích khó chịu và tăng cân không đầy đủ.
Do đó, cần quyết định có nên dừng sữa mẹ hoặc ngừng/tránh dùng trị liệu topiramat tùy theo tầm quan trọng của thuốc đối với người mẹ.
Khả năng sinh sản
Các nghiên cứu trên động vật không phát hiện sự suy giảm khả năng sinh sản do topiramat.
Tác động của topiramat lên sự sinh sản của người chưa được xác lập.
Topiramat gây ảnh hưởng nhẹ hoặc trung bình lên khả năng lái xe và vận hành máy móc. Topiramat tác động trên hệ thần kinh trung ương, có thể gây buồn ngủ, chóng mặt hoặc các triệu chứng liên quan khác. Nó có thể gây ra các rối loạn thị giác và/hoặc nhìn mờ. Những tác dụng không mong muốn này có thể gây nguy hiểm cho người khi lái xe hay vận hành máy móc, đặc biệt cho đến khi kinh nghiệm dùng thuốc trên từng bệnh nhân được thiết lập.
(Đối với mục tiêu của phần này, liều không gây ảnh hưởng là liều không làm thay đổi quá 15%.)
Tác động của các thuốc chống động kinh khác trên topiramat
Phenytoin và carbamazepin làm giảm nồng độ huyết tương của topiramat. Khi phối hợp thêm hoặc ngừng phenytoin hay carbamazepin trong khi đang điều trị với topiramat có thể cần chỉnh liều dùng của topiramat sau đó. Việc chỉnh liều này nên tiến hành dựa vào hiệu quả lâm sàng.
Phối hợp hoặc ngừng axit valproic không làm thay đổi đáng kể về mặt lâm sàng nồng độ trong huyết tương của topiramat và do đó, không cần điều chỉnh liều dùng của topiramat.
Các tương tác này được tóm tắt như sau:
| Dùng chung với thuốc chống động kinh khác | Nồng độ thuốc chống động kinh khác | Nồng độ topiramat |
|---|---|---|
| Phenytoin | ↔ ** | ↓ |
| Carbamazepin (CBZ) | ↔ | ↓ |
| Axit valproic | ↔ | ↔ |
| Lamotrigin | ↔ | ↔ |
| Phenobarbital | ↔ | NS |
| Primidon | ↔ | NS |
Chú thích:
↔: Không ảnh hưởng trên nồng độ huyết tương (thay đổi < 15%).
**: Nồng độ huyết tương gia tăng tùy từng cá nhân.
↓: Nồng độ huyết tương giảm.
NS: Không có nghiên cứu.
Tác động của topiramat với các thuốc chống động kinh khác
Việc phối hợp thêm topiramat khi đang điều trị với các thuốc chống động kinh khác (phenytoin, carbamazepin, axit valproic, phenobarbital, primidon) không ảnh hưởng đến nồng độ đạt trạng thái ổn định trong huyết tương của các thuốc này, ngoại trừ ở vài bệnh nhân, việc phối hợp thêm topiramat khi đang điều trị với phenytoin có thể làm tăng nồng độ phenytoin trong huyết tương. Điều này có thể là do sự ức chế của một enzym đặc hiệu dạng đồng phân (CYP2C19). Vì vậy, bất cứ người bệnh nào đang dùng phenytoin có những dấu hiệu hoặc triệu chứng lâm sàng của độc tính của thuốc, nên kiểm tra nồng độ phenytoin.
Có một nghiên cứu về tương tác dược động học trên bệnh nhân động kinh cho thấy việc dùng đồng thời lamotrigin, khi thêm topiramat ở liều 100–400 mg/ngày, không ảnh hưởng lên nồng độ lamotrigin ở trạng thái ổn định trong huyết tương. Hơn nữa, cũng không thấy thay đổi về nồng độ topiramat ở trạng thái ổn định trong huyết tương trong khi hoặc sau khi ngừng điều trị với lamotrigin (liều trung bình là 327 mg/ngày).
Các tương tác thuốc khác
Digoxin
Trong nghiên cứu đơn liều, diện tích dưới đường cong (AUC) của nồng độ digoxin trong huyết thanh giảm 12% khi dùng đồng thời với topiramat. Tương quan về mặt lâm sàng của quan sát này chưa được thiết lập. Khi topiramat được phối hợp thêm vào hay ngừng dùng ở những người bệnh đang điều trị với digoxin, cần chú ý kiểm tra thường kỳ digoxin trong huyết thanh.
Các thuốc ức chế hệ thần kinh trung ương
Việc dùng cùng topiramat với rượu hoặc các thuốc ức chế hệ thần kinh trung ương khác chưa được đánh giá trong các nghiên cứu lâm sàng, vì vậy khuyến cáo topiramat không dùng chung với rượu hoặc các thuốc ức chế hệ thần kinh trung ương khác.
Các thuốc tránh thai đường uống
Trong nghiên cứu tương tác dược động học ở những người tình nguyện khỏe mạnh đang sử dụng đồng thời với các thuốc tránh thai đường uống kết hợp chứa 1 mg norethindron (NET) và 35 mcg ethinyl estradiol (EE), topiramat ở liều từ 50–200 mg/ngày không làm thay đổi đáng kể có ý nghĩa thống kê phơi nhiễm trung bình (AUC) của các thành phần có trong thuốc tránh thai uống.
Trong một nghiên cứu khác, phơi nhiễm với EE giảm có ý nghĩa thống kê ở liều 200, 400 và 800 mg/ngày (tương ứng giảm 18%, 21% và 30%) khi sử dụng phối hợp ở những bệnh nhân đang điều trị với axit valproic. Ở cả hai nghiên cứu, topiramat (50–800 mg/ngày) không ảnh hưởng đáng kể lên phơi nhiễm của NET.
Mặc dù trong khoảng liều topiramat từ 200–800 mg/ngày, phơi nhiễm EE có sự giảm phụ thuộc liều, nhưng trong khoảng liều topiramat từ 50–200 mg/ngày, phơi nhiễm EE không thay đổi phụ thuộc liều một cách rõ rệt. Chưa quan sát thấy ý nghĩa lâm sàng của các thay đổi này.
Khả năng làm giảm hiệu quả của thuốc tránh thai đường uống và tăng nguy cơ xuất huyết đột xuất nên được cân nhắc ở bệnh nhân đang dùng thuốc tránh thai đường uống đồng thời với topiramat. Bệnh nhân đang dùng thuốc tránh thai có chứa estrogen nên được dặn dò về việc báo cáo bất kỳ sự thay đổi nào trong và cả xuất huyết của họ. Hiệu quả của thuốc tránh thai có thể giảm thậm chí khi không có xuất huyết.
Lithium
Trên người tình nguyện khỏe mạnh, quan sát thấy có sự giảm phơi nhiễm hệ thống với lithium (18% diện tích dưới đường cong - AUC) khi dùng topiramat 200 mg/ngày.
Ở những bệnh nhân bị rối loạn lưỡng cực, dược động học của lithium không bị ảnh hưởng trong thời gian điều trị với topiramat 200 mg/ngày. Tuy nhiên, sau khi dùng topiramat tới mức 600 mg/ngày thì có tăng phơi nhiễm hệ thống (26% AUC).
Khi dùng chung với topiramat, cần phải theo dõi nồng độ lithium.
Risperidon
Các nghiên cứu tương tác thuốc-thuốc trên người tình nguyện khỏe mạnh và người bệnh bị rối loạn lưỡng cực, trong điều kiện dùng đơn liều và đa liều, cho kết quả tương tự nhau.
Khi dùng cùng với topiramat ở những liều tăng từ 100, 250 và 400 mg/ngày, thấy có giảm phơi nhiễm hệ thống (16% và 33% AUC ở trạng thái hằng định, với các liều lần lượt là 250 và 400 mg/ngày) của risperidon (liều từ 1–6 mg/ngày).
Có thay đổi rất ít về dược động học của toàn bộ phần hoạt tính (risperidon + 9-hydroxyrisperidon) và không thấy có thay đổi về dược động học của 9-hydroxyrisperidon.
Không có thay đổi có ý nghĩa lâm sàng trong phơi nhiễm hệ thống của toàn bộ phần hoạt tính của risperidon hay topiramat, do vậy tương tác thuốc giữa hai thuốc này không có ý nghĩa lâm sàng.
Hydroclorothiazid (HCTZ)
Một nghiên cứu tương tác thuốc-thuốc ở trên người tình nguyện khỏe mạnh nhằm đánh giá dược động học ở trạng thái ổn định của HCTZ (25 mg mỗi 24 giờ) và topiramat (96 mg mỗi 12 giờ) khi dùng đơn độc và phối hợp với nhau.
Kết quả nghiên cứu cho thấy Cmax của topiramat tăng 27% và AUC tăng 29% khi phối hợp thêm với HCTZ. Ý nghĩa lâm sàng của những thay đổi này chưa rõ.
Điều trị phối hợp HCTZ với topiramat có thể cần phải chỉnh liều topiramat. Dược động học ở trạng thái ổn định của HCTZ không bị ảnh hưởng đáng kể bởi dùng đồng thời với topiramat.
Kết quả xét nghiệm lâm sàng cho thấy có giảm kali huyết thanh sau khi dùng topiramat hay HCTZ, mức giảm nhiều hơn khi hai thuốc này được dùng cùng lúc với nhau.
Metformin
Một nghiên cứu tương tác thuốc-thuốc được thực hiện ở người tình nguyện khỏe mạnh để đánh giá dược động học ở trạng thái ổn định của metformin và topiramat trong huyết tương khi dùng metformin đơn độc hay dùng đồng thời metformin và topiramat.
Kết quả của nghiên cứu cho thấy:
Cmax và AUC trung bình của metformin tăng lần lượt 18% và 25%.
Độ thanh thải qua thận (CL/F) trung bình giảm 20% khi metformin được dùng đồng thời với topiramat.
Topiramat không ảnh hưởng lên tmax của metformin.
Ý nghĩa lâm sàng của sự tương tác giữa metformin và topiramat chưa rõ. Sự thanh thải qua thận của topiramat giảm khi phối hợp với metformin. Mức độ thay đổi của sự thanh thải này không được biết rõ.
Ý nghĩa lâm sàng của tác động của metformin đối với dược động học của topiramat chưa được biết.
Khi topiramat được dùng phối hợp hay ngừng ở bệnh nhân đang điều trị metformin, cần đặc biệt chú ý theo dõi thường xuyên để kiểm soát thích hợp tình trạng bệnh đái tháo đường.
Pioglitazon
Nghiên cứu tương tác thuốc-thuốc được thực hiện ở người tình nguyện khỏe mạnh để đánh giá dược động học ở trạng thái ổn định của pioglitazon và topiramat khi dùng đơn độc hay dùng đồng thời.
Quan sát thấy giảm 15% AUC của pioglitazon mà không thay đổi Cmax. Kết quả này không có ý nghĩa thống kê.
Tiếp đó, thấy có giảm 13% Cmax và 16% AUC của chất chuyển hóa hydroxyl có hoạt tính và giảm 60% Cmax và AUC của chất chuyển hóa keto có hoạt tính.
Ý nghĩa lâm sàng của các phát hiện này chưa rõ.
Khi đang điều trị pioglitazon mà thêm topiramat hay khi đang điều trị topiramat mà thêm pioglitazon, cần theo dõi thường xuyên để kiểm soát thích hợp tình trạng bệnh đái tháo đường.
Glyburid
Nghiên cứu tương tác thuốc-thuốc được thực hiện ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2 để đánh giá dược động học ở trạng thái ổn định của glyburid (5 mg/ngày) dùng đơn độc hay đồng thời với topiramat (150 mg/ngày).
Thấy có giảm 25% AUC của glyburid trong khi dùng topiramat.
Phơi nhiễm hệ thống của các chất chuyển hóa có hoạt tính 4-trans-hydroxy-glyburid (M1) và 3-cis-hydroxy-glyburid (M2) cũng bị giảm lần lượt 13% và 15%.
Dược động học ở trạng thái ổn định của topiramat không bị ảnh hưởng khi dùng đồng thời với glyburid.
Khi đang điều trị glyburid mà thêm topiramat, hay khi đang điều trị topiramat mà thêm glyburid, cần phải theo dõi chặt chẽ bệnh nhân để kiểm soát tình trạng bệnh đái tháo đường một cách thích hợp.
Bảo quản thuốc ở nơi khô, thoáng, nhiệt độ dưới 30°C, tránh ánh sáng.
:format(webp)/Nguyen_Kim_Thuy_ea92026f36.png)
Dược sĩ Đại học Ngô Kim Thúy
Đã kiểm duyệt nội dung
Tốt nghiệp loại giỏi trường Đại học Y Dược Huế. Từng tham gia nghiên cứu khoa học đề tài về Dược liệu. Nhiều năm kinh nghiệm làm việc trong lĩnh vực Dược phẩm. Hiện đang là giảng viên cho Dược sĩ tại Nhà thuốc Long Châu.
Tốt nghiệp loại giỏi trường Đại học Y Dược Huế. Từng tham gia nghiên cứu khoa học đề tài về Dược liệu. Nhiều năm kinh nghiệm làm việc trong lĩnh vực Dược phẩm. Hiện đang là giảng viên cho Dược sĩ tại Nhà thuốc Long Châu.
Nhóm dược lý: Thuốc chống động kinh khác.
Mã ATC: N03AX11.
Việc bắt đầu điều trị Famatar 50 với liều thấp và sau đó tăng dần (chỉnh liều) giúp cơ thể thích nghi dần với thuốc, qua đó giảm thiểu nguy cơ và mức độ nghiêm trọng của các tác dụng phụ. Nó cũng cho phép bác sĩ xác định được liều thấp nhất có hiệu quả để kiểm soát tình trạng bệnh, giúp cá nhân hóa phác đồ điều trị.
Tuyệt đối không nên ngưng sử dụng Famatar 50 một cách đột ngột, ngay cả khi các triệu chứng đã được kiểm soát. Việc dừng thuốc đột ngột có thể làm tăng tần suất các cơn co giật. Bất kỳ việc giảm liều hay ngưng thuốc nào cũng cần được thực hiện từ từ và dưới sự giám sát chặt chẽ của bác sĩ chuyên môn
Buồn ngủ, chóng mặt và mệt mỏi là những tác dụng phụ rất thường gặp khi sử dụng amatar 50. Những triệu chứng này có thể ảnh hưởng đến khả năng lái xe hoặc vận hành máy móc. Do đó, người bệnh cần thận trọng cho đến khi biết rõ thuốc ảnh hưởng đến mình như thế nào, đặc biệt là trong giai đoạn đầu điều trị hoặc khi thay đổi liều.
Thuốc này có chứa lactose. Việc sử dụng thuốc này không được khuyến cáo ở những bệnh nhân không dung nạp galactose, thiếu lactase hoặc kém hấp thu glucose-galactose bẩm sinh (bệnh di truyền hiếm gặp).

Hãy sử dụng sản phẩm và trở thành người đầu tiên đánh giá trải nghiệm nha.
Lọc theo:
Đào Thanh TâmDược sĩ
Chào Chị Thuy Binh,
Hiện tại, sản phẩm FAMATAR 50MG USP 3X10 có giá 132.000đ/ hộp ạ.
Chị có thể gửi yêu cầu Tư vấn ngay trên website hoặc tại ứng dụng Long Châu / ZALO OA Nhà thuốc FPT Long Châu để hưởng ưu đãi miễn phí vận chuyển khi đặt giao tại nhà ạ.
:format(webp)/thuoc_famatar_50mg_usp_3x10_00051737_4_71e6113beb.png)
Thuy Binh