Thuốc Qlaira là thuốc tránh thai đường uống kết hợp. Thuốc còn được chỉ định trong điều trị chảy máu kinh nguyệt nhiều không do nguyên nhân thực thể ở phụ nữ lựa chọn biện pháp tránh thai đường uống.
Số đăng ký
Quy cách
Thành phần
Xem tất cả thông tin
Lưu ý: Sản phẩm này chỉ bán khi có chỉ định của bác sĩ, mọi thông tin trên Website chỉ mang tính chất tham khảo.
Thuốc Qlaira Bayer là gì?
Mặc định
Lớn hơn
Thuốc Qlaira chỉ định điều trị trong các trường hợp sau:
Mã ATC: G03AB08
Nhóm dược lý: Progestogen và estrogen, chế phẩm dùng tuần tự
Trong các thử nghiệm lâm sàng được thực hiện với Qlaira tại Liên minh châu Âu và tại Hoa Kỳ/Canada, đã tính toán được chỉ số Pearl như sau:
Chỉ số Pearl (18-50 tuổi):
Chỉ số Pearl (18-35 tuổi):
Tác dụng tránh thai của COC dựa trên tương tác của các yếu tố khác nhau, trong đó điều quan trọng nhất thấy được là sự ức chế rụng trứng, thay đổi dịch tiết cổ tử cung và thay đổi nội mạc tử cung.
Trong một nghiên cứu ức chế rụng trứng trong 3 chu kỳ, điều trị với Qlaira dẫn đến ức chế hình thành nang trứng ở hầu hết phụ nữ. Hoạt động buồng trứng trở lại mức trước khi điều trị trong chu kỳ sau khi điều trị.
Qlaira được dùng liều theo phác đồ giảm dần estrogen và tăng dần progestin, phác đồ này có thể dùng để điều trị ra máu kinh nguyệt nhiều khi không có bệnh lý trong cơ thể, các triệu chứng đôi khi được gọi là xuất huyết tử cung do rối loạn chức năng (DUB).
Hai nghiên cứu đa trung tâm, mù đôi, ngẫu nhiên có thiết kế tương tự nhau đã được thực hiện để đánh giá hiệu quả và tính an toàn của Qlaira ở phụ nữ có triệu chứng của DUB và muốn dùng thuốc tránh thai dạng uống. Tổng cộng, 269 phụ nữ được phân nhóm ngẫu nhiên dùng Qlaira và 152 bệnh nhân dùng giả dược.
Sau 6 tháng điều trị, lượng mất máu kinh nguyệt (MBL) trung vị giảm 88% từ 142 mL xuống 17 mL trong nhóm Qlaira so với 24% từ 154 mL xuống 117 mL trong nhóm giả dược.
Sau 6 tháng điều trị, tỷ lệ phụ nữ được chữa khỏi hoàn toàn mọi triệu chứng DUB là 29% trong nhóm Qlaira so với 2% trong nhóm giả dược.
Estrogen trong Qlaira là estradiol valerat, một ester của 17ß-estradiol tự nhiên của người (1 mg estradiol valerat tương ứng với 0,76 mg 17 ß-estradiol). Estrogen này khác với các estrogen ethinylestradiol hoặc tiền thuốc của nó là mestranol được sử dụng trong các COC khác ở chỗ thiếu một nhóm ethinyl ở vị trí 17 alpha.
Dienogest là một dẫn xuất của nortestosteron không có tính hướng androgen mà có hoạt tính kháng androgen bằng khoảng một phần ba so với cyproteron acetat. Dienogest gắn với thụ thể progesteron trong tử cung người chỉ với 10% ái tính tương đối của progesteron. Mặc dù ái tính thấp với thụ thể progesteron, dienogest có tác dụng hướng progestogen mạnh trong in vivo. Dienogest không có hoạt tính hướng androgen đáng kể của mineralocorticoid hoặc glucocorticoid trong in vivo.
Mô học nội mạc tử cung đã được nghiên cứu trong một phân nhóm phụ nữ (n=218) trong một nghiên cứu lâm sàng sau 20 chu kỳ điều trị. Không có kết quả bất thường nào.
Dienogest
Hấp thu
Dienogest dùng đường uống được hấp thụ nhanh và gần như hoàn toàn. Nồng độ tối đa trong huyết thanh là 90,5ng/ml đạt được sau khoảng 1 giờ sau khi dùng đường uống viên nén bao Qlaira chứa 2 mg estradiol valerat + 3 mg dienogest. Sinh khả dụng là khoảng 91 %. Dược động học của dienogest tỷ lệ thuận với liều trong phạm vi liều 1 – 8 mg.
Dùng đồng thời với thức ăn không có tác dụng có ý nghĩa lâm sàng lên tốc độ và mức độ hấp thụ dienogest.
Phân bố
Tỷ lệ tương đối cao 10% dienogest trong tuần hoàn ở dạng tự do, với khoảng 90% gắn kết không đặc hiệu với albumin. Dienogest không gắn kết với các protein vận chuyển đặc hiệu SHBG và CBG. Thể tích phân bố ở trạng thái ổn định (Va,ss) của dienogest là 46 I sau khi dùng qua tĩnh mạch 85 µg 3H-dienogest.
Chuyển hóa sinh học
Dienogest được chuyển hóa hoàn toàn bởi con đường chuyển hóa steroid đã biết (hydroxyl hóa, cộng hợp), chủ yếu bởi CYP3A4. Các chất chuyển hóa không có hoạt tính dược lý được bài tiết nhanh chóng dẫn đến dienogest là phân đoạn chính trong huyết tương, chiếm khoảng 50% các hợp chất dẫn xuất từ dienogest trong tuần hoàn. Độ thanh thải toàn phần sau khi dùng qua tĩnh mạch 3H-dienogest tính được là 5,1 l/giờ.
Thải trừ
Thời gian bán thải trong huyết tương của dienogest là khoảng 11 giờ. Dienogest được chuyển hóa mạnh và chỉ 1% thuốc được bài tiết ở dạng không đổi. Tỷ lệ bài tiết qua nước tiểu so với qua phân là khoảng 3:1 sau khi dùng đường uống 0,1 mg/kg. Sau khi dùng đường uống, 42% liều được thải trừ trong vòng 24 giờ đầu và 63% trong vòng 6 ngày bởi bài tiết qua thận. Tổng cộng 86% liều được bài tiết qua nước tiểu và phân sau 6 ngày.
Estradiol valerat
Hấp thu
Sau khi dùng đường uống, estradiol valerate được hấp thụ hoàn toàn. Hoạt động phân chia estradiol và axit valeric xảy ra trong khi hấp thụ bởi niêm mạc ruột hoặc trong quá trình hấp thụ bước đầu ở gan. Hoạt động này tạo ra estradiol và chất chuyển hóa của nó là estrone và estriol. Nồng độ estradiol tối đa trong huyết thanh là 70,6 pg/ml đạt được trong khoảng 1,5 đến 12 giờ sau khi nuốt một lần viên nén bao chứa 3 mg estradiol valerate vào ngày 1.
Chuyển hóa sinh học
Axit valeric trải qua chuyển hóa rất nhanh. Sau khi dùng đường uống khoảng 3% liều có sinh khả dụng trực tiếp dưới dạng estradiol. Estradiol trải qua tác dụng hấp thụ bước đầu rất mạnh và một phần đáng kể liều uống vào đã được chuyển hóa ngay trong niêm mạc hệ tiêu hóa. Cùng với chuyển hóa trong gan trước khi vào hệ tuần hoàn, khoảng 95% liều dùng đường uống đã được chuyển hóa trước khi đi vào tuần hoàn toàn thân. Các chất chuyển hóa chính là estron, estron sulfat và estron glucuronid.
Phân bố
Trong huyết thanh, 38% estradiol gắn kết với SHBG, 60% với albumin và 2-3% lưu thông trong tuần hoàn của dạng tự do. Estradiol có thể gây cảm ứng nhẹ nồng độ SHBG trong huyết thanh có phụ thuộc vào liều. Vào ngày 21 của chu kỳ điều trị, SHBG đạt khoảng 148% so với ban đầu, giảm xuống khoảng 141% mức ban đầu vào ngày 28 (kết thúc khoảng thời gian dùng thuốc giả dược). Thể tích phân bố biểu kiến khoảng 1,2 l/kg được xác định sau khi dùng qua tĩnh mạch.
Thải trừ
Thời gian bán thải trong huyết tương của estradiol trong tuần hoàn là khoảng 90 phút. Tuy nhiên sau khi dùng đường uống, kết quả có thay đổi. Bởi vì lượng estrogen sulfate và glucuronide trong tuần hoàn lớn, cũng như tái tuần hoàn ruột-gan, thời gian bán thải pha cuối của estradiol sau khi dùng đường uống thể hiện một chỉ số tổng hợp phụ thuộc vào tất cả quá trình này và nằm trong phạm vi khoảng 13-20 giờ.
Estradiol và các chất chuyển hóa của nó chủ yếu được bài tiết trong nước tiểu, với khoảng 10% được bài tiết trong phân.
Thuốc tránh thai đường uống.
Điều trị trên phụ nữ chảy máu kinh nguyệt nhiều không phải do nguyên nhân thực thể và lựa chọn dùng biện pháp tránh thai đường uống.
Khi quyết định kê đơn Qlaira nên cân nhắc đến các yếu tố nguy cơ hiện tại của từng phụ nữ, đặc biệt là các yếu tố nguy cơ gây thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch (VTE) và so sánh nguy cơ mắc VTE khi dùng Qlaira với các thuốc tránh thai chứa hormon kết hợp (CHC) khác (xem các mục “Chống chỉ định” và “Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc”).
Phải uống các viên nén bao theo thứ tự được chỉ dẫn trên bao bì mỗi ngày, vào cùng một khoảng thời gian, với một ít chất lỏng nếu cần thiết. Uống thuốc liên tục. Mỗi ngày dùng 1 viên nén bao trong 28 ngày liên tục.
Bắt đầu dùng mỗi hộp tiếp theo vào ngày sau ngày dùng viên nén bao cuối cùng của hộp thuốc theo lịch chu kỳ trước đó. Ra máu do ngừng thuốc thường bắt đầu trong khi dùng viên nén bao cuối cùng của một hộp thuốc và có thể chưa kết thúc trước khi bắt đầu hộp tiếp theo. Ở một số phụ nữ, ra máu bắt đầu sau khi dùng viên thuốc đầu tiên của hộp thuốc mới.
Cách bắt đầu dùng Qlaira
Không dùng thuốc tránh thai chứa hormon trước đó (trong tháng vừa qua)
Phải bắt đầu dùng thuốc vào ngày đầu tiên của chu kỳ tự nhiên của người phụ nữ (tức là ngày đầu tiên ra máu kinh nguyệt).
Đổi từ một thuốc tránh thai chứa hormon kết hợp (thuốc tránh thai dạng uống kết hợp/COC), vòng âm đạo hoặc miếng dán qua da
Phụ nữ cần bắt đầu Qlaira vào ngày sau ngày dùng viên nén bao chứa hoạt chất cuối cùng (viên nén bao cuối cùng chứa chất có hoạt tính) của COC trước đó. Trong trường hợp dùng vòng âm đạo hoặc miếng dán qua da, phụ nữ cần bắt đầu dùng Qlaira vào ngày tháo vòng hoặc miếng dán.
Đổi từ phương pháp chỉ chứa progestogen (thuốc viên, thuốc tiêm, que cấy chỉ chứa progestogen) hoặc từ dụng cụ tử cung (IUS) giải phóng progestogen
Phụ nữ có thể chuyển từ thuốc viên chỉ chứa progestogen vào bất kỳ ngày nào (chuyển từ que cấy hoặc IUS vào ngày tháo dụng cụ, chuyển từ thuốc tiêm vào ngày đến hạn lần tiêm tiếp theo), nhưng trong tất cả trường hợp này, họ cần được khuyên dùng thêm một biện pháp rào cản trong 9 ngày đầu tiên dùng viên nén bao.
Sau khi ngừng thai kỳ trong tam cá nguyệt thứ nhất
Phụ nữ có thể bắt đầu ngay lập tức. Khi làm như vậy thì không cần áp dụng biện pháp tránh thai nào khác.
Sau khi sinh con hoặc ngừng thai kỳ trong tam cá nguyệt thứ hai
Với phụ nữ cho con bú, xem mục “Sử dụng thuốc cho phụ nữ có thai và cho con bú”.
Phụ nữ cần được khuyến cáo nên bắt đầu vào ngày 21 đến ngày 28 sau khi sinh hoặc ngừng thai kỳ ở tam cá nguyệt thứ hai. Nếu bắt đầu muộn hơn, phụ nữ cần được khuyến cáo dùng thêm biện pháp rào cản trong 9 ngày đầu tiên dùng thuốc viên. Tuy nhiên, nếu đã quan hệ tình dục, cần loại trừ việc mang thai trước khi thực sự bắt đầu sử dụng COC hoặc phụ nữ phải đợi đến chu kỳ kinh nguyệt đầu tiên sau đó.
Khuyến cáo trong trường hợp bị rối loạn tiêu hóa
Trong trường hợp rối loạn tiêu hóa nặng (ví dụ, nôn mửa hoặc tiêu chảy), việc hấp thu có thể không hoàn toàn và nên dùng biện pháp tránh thai bổ sung.
Nếu bị nôn trong vòng 3-4 giờ sau khi uống viên thuốc chứa hormon, nên uống viên thuốc tiếp theo càng sớm càng tốt. Viên thuốc này nên được uống trong vòng 12 giờ sau giờ uống thuốc thông thường, nếu có thể. Nếu quá 12 giờ, áp dụng các khuyến cáo về việc quên uống thuốc được nêu trong mục “Xử trí quên liều”. Nếu người phụ nữ không muốn thay đổi lịch uống thuốc thông thường, cô ấy phải uống viên thuốc tương ứng cần thiết từ vỉ thuốc khác.
Thông tin thêm cho các quần thể đặc biệt
Trẻ em và trẻ vị thành niên
Không có dữ liệu cho việc sử dụng trên trẻ vị thành niên dưới 18 tuổi.
Bệnh nhân lão khoa
Qlaira không được chỉ định sau khi mãn kinh.
Bệnh nhân suy gan
Qlaira bị chống chỉ định ở phụ nữ bị bệnh gan nặng. Xem thêm mục “Chống chỉ định”.
Bệnh nhân suy thận
Qlaira chưa được nghiên cứu cụ thể trên bệnh nhân suy thận
Quá liều
Không có báo cáo nào về các phản ứng có hại nghiêm trọng do quá liều. Triệu chứng có thể xảy ra trong trường hợp dùng quá liều thuốc có hoạt chất là: buồn nôn, nôn và, ở các bé gái có ra máu âm đạo nhẹ. Không có thuốc giải độc và việc điều trị thêm chỉ là điều trị triệu chứng.
Cách xử trí
Không có thuốc giải độc và việc điều trị thêm chỉ là điều trị triệu chứng. Chủ động theo dõi để phản ứng kịp thời.
Có thể bỏ qua nếu quên các viên thuốc giả dược (màu trắng). Tuy nhiên, cần vứt bỏ các viên đã quên uống để tránh vô tình kéo dài khoảng thời gian giữa các viên nén bao có hoạt chất.
Những khuyến cáo sau đây chỉ áp dụng khi quên các viên nén bao chứa hoạt chất:
Nếu phụ nữ dùng bất kỳ viên thuốc nào trễ dưới 12 giờ thì khả năng bảo vệ tránh thai không bị giảm. Phụ nữ nên uống viên thuốc đó ngay khi nhớ ra, sau đó nên tiếp tục uống thuốc vào giờ như thường lệ.
Nếu phụ nữ dùng bất kỳ viên thuốc nào trễ hơn 12 giờ thì khả năng bảo vệ tránh thai có thể bị giảm. Phụ nữ nên uống viên thuốc bị quên gần nhất ngay khi nhớ ra, kể cả khi phải uống hai viên cùng một lúc. Sau đó nên tiếp tục uống thuốc vào giờ như thường lệ.
Tùy thuộc vào ngày trong chu kỳ bị quên uống thuốc (xem biểu đồ dưới đây để biết chi tiết), phải sử dụng biện pháp tránh thai dự phòng (ví dụ: một biện pháp rào cản như bao cao su) theo những nguyên tắc sau đây:
| NGÀY | Màu sắc Hàm lượng estradiol valerate (EV) / dienogest (DNG) | Nguyên tắc cần thực hiện nếu quên một viên thuốc quá 12 giờ: |
|---|---|---|
| 1 – 2 | Viên màu vàng sẫm(3,0 mg EV) |
|
| 3 – 7 | Viên màu đỏ vừa(2,0 mg EV + 2,0 mg DNG) |
|
| 8 – 17 | Viên màu vàng nhạt(2,0 mg EV + 3,0 mg DNG) |
|
| 18 – 24 | Viên màu vàng nhạt(2,0 mg EV + 3,0 mg DNG) |
|
| 25 – 26 | Viên màu đỏ sẫm(1,0 mg EV) |
|
| 27 – 28 | Viên màu trắng (không chứa hoạt chất) |
|
Không được uống quá hai viên trong một ngày.
Nếu quên bắt đầu một hộp thuốc theo lịch chu kỳ mới, hoặc nếu quên một hoặc nhiều viên trong các ngày 3-9 của hộp thuốc theo lịch chu kỳ thì có thể mang thai (nếu có quan hệ tình dục trong 7 ngày trước khi quên). Càng quên nhiều viên thuốc (đặc biệt là những viên kết hợp hai loại hormon vào ngày 3 – 24) và họ càng tiến gần đến giai đoạn dùng viên thuốc không chứa hormon, thì nguy cơ mang thai càng cao.
Nếu phụ nữ quên uống thuốc và sau đó không bị ra máu do ngừng thuốc vào cuối hộp thuốc bắt đầu hộp theo lịch chu kỳ mới, cần cân nhắc đến khả năng đã mang thai.
Mọi thông tin chỉ mang tính chất tham khảo. Việc sử dụng thuốc phải tuân theo hướng dẫn của bác sĩ chuyên môn.
Mô tả phản ứng bất lợi chọn lọc
Tăng nguy cơ biến cố thuyên tắc huyết khối và huyết khối động mạch và tĩnh mạch, bao gồm nhồi máu cơ tim, đột quỵ, cơn thiếu máu não thoáng qua, huyết khối tĩnh mạch và thuyên tắc phổi đã được thấy ở phụ nữ sử dụng CHC và được thảo luận chi tiết hơn trong mục “Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc”.
Xuất hiện vô kinh và ra máu trong chu kỳ dựa trên nhật ký bệnh nhân được tóm tắt trong mục Kiểm soát chu kỳ trong “Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc” .
Các biến cố bất lợi nghiêm trọng sau đây đã được báo cáo ở phụ nữ sử dụng COC và được thảo luận trong mục “Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc”:
Khối u
Tần suất chẩn đoán ung thư vú hơi tăng nhẹ ở người dùng COC. Bởi vì ung thư vú hiếm gặp ở phụ nữ dưới 40 tuổi số ca nhiều hơn vẫn là nhỏ so với nguy cơ ung thư vú tổng thể. Quan hệ nhân quả với việc sử dụng COC chưa được xác định. Để biết thêm thông tin, hãy xem mục “Chống chỉ định” và “Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc”;
Các tình trạng bệnh lý khác:
Ở phụ nữ bị phù mạch di truyền, estrogen ngoại sinh có thể gây cảm ứng hoặc làm nặng thêm các triệu chứng phù mạch;
Rối loạn chức năng gan cấp tính hoặc mạn tính có thể đòi hỏi phải ngừng sử dụng COC cho đến khi các chỉ dấu chức năng gan trở về bình thường.
Tương tác
Ra máu đột ngột và/hoặc thất bại trong tránh thai có thể do tương tác của các thuốc khác (thuốc gây cảm ứng enzym) với thuốc tránh thai dạng uống (xem mục “Tương tác, tương kỵ của thuốc”).
Thông báo ngay cho bác sĩ hoặc dược sĩ khi gặp các tác dụng không mong muốn như trên khi sử dụng thuốc hoặc báo cáo các phản ứng có hại của thuốc về Trung tâm Thông tin thuốc và Theo dõi phản ứng có hại của thuốc (ADR) quốc gia.
Xem thêm Bảng danh sách tác dụng không mong muốn trong tờ hướng dẫn sử dụng thuốc.
Thuốc Qlaira chống chỉ định trong các trường hợp sau:
Không nên dùng thuốc tránh thai chứa hormon kết hợp (CHCs) trong các tình trạng bệnh lý sau. Nếu bất kỳ bệnh trạng nào xuất hiện lần đầu tiên trong quá trình sử dụng CHC, phải ngừng dùng sản phẩm ngay lập tức.
Hiện có hoặc nguy cơ có thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch (VTE):
Hiện có hoặc nguy cơ có thuyên tắc huyết khối động mạch (ATE):
Hiện có hoặc tiền sử bị bệnh gan nặng với chỉ số chức năng gan chưa trở lại bình thường.
Hiện có hoặc tiền sử bị u gan (lành tính hoặc ác tính).
Đã biết hoặc nghi ngờ có khối u ác tính ảnh hưởng đến steroid sinh dục (ví dụ: các cơ quan sinh dục hoặc vú).
Ra máu âm đạo chưa được chẩn đoán.
Quá mẫn với các hoạt chất hoặc bất kỳ tá dược nào được liệt kê.
Cảnh báo
Nếu có bất kỳ tình trạng bệnh lý hoặc yếu tố nguy cơ nào nêu dưới đây, cần thảo luận về khả năng phù hợp với Qlaira với phụ nữ.
Trong trường hợp nặng thêm, hoặc xuất hiện lần đầu tiên bất kỳ tình trạng bệnh lý hay yếu tố nguy cơ nào, cần khuyến cáo phụ nữ liên hệ với bác sĩ để xác định xem có nên ngừng dùng Qlaira hay không.
Trong trường hợp nghi ngờ hoặc đã khẳng định VTE hoặc ATE, nên ngừng sử dụng CHC. Trong trường hợp bắt đầu liệu pháp thuốc chống đông, cần bắt đầu dùng biện pháp tránh thai thay thế đầy đủ bởi vì khả năng sinh quái thai của liệu pháp thuốc chống đông (coumarin).
Các cảnh báo và biện pháp phòng ngừa sau đây chủ yếu thu được từ dữ liệu lâm sàng và dịch tễ học của các COC chứa ethinyl estradiol.
Rối loạn tuần hoàn
Nguy cơ thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch (VTE)
Sử dụng bất kỳ thuốc tránh thai chứa hormon kết hợp (CHC) nào cũng làm tăng nguy cơ thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch (VTE) so với không sử dụng. Các sản phẩm có chứa levonorgestrel, norestimat hoặc norethisteron có liên quan đến nguy cơ VTE thấp nhất. Có ít dữ liệu gợi ý rằng Qlaira có thể có nguy cơ VTE trong phạm vi tương tự. Chỉ nên đưa ra quyết định sử dụng bất kỳ sản phẩm nào khác (như là Qlaira) ngoài sản phẩm đã biết có nguy cơ VTE thấp nhất sau khi thảo luận với phụ nữ để đảm bảo họ hiểu rõ nguy cơ VTE với CHC, các yếu tố nguy cơ hiện tại của họ ảnh hưởng đến nguy cơ này như thế nào, và nguy cơ VTE sẽ cao nhất trong năm đầu tiên sử dụng. Ngoài ra cũng có một số bằng chứng cho thấy nguy cơ tăng lên khi CHC được bắt đầu dùng lại sau khi ngừng sử dụng trong 4 tuần trở lên.
Ở phụ nữ không sử dụng CHC và không mang thai, khoảng 2 trên 10.000 người sẽ bị VTE trong khoảng thời gian một năm. Tuy nhiên, ở từng người phụ nữ, nguy cơ có thể cao hơn nhiều, tùy vào yếu tố nguy cơ hiện có (xem dưới đây).
Nghiên cứu dịch tễ học ở phụ nữ sử dụng thuốc tránh thai chứa hormon kết hợp liều thấp (<50 μg ethinylestradiol) đã thấy rằng trong số 10.000 phụ nữ, có khoảng 6 đến 12 người sẽ bị VTE trong vòng một năm.
Ước tính rằng trong số 10.000 phụ nữ sử dụng CHC chứa levonorgestrel, khoảng 61 sẽ bị VTE trong một năm.
Bằng chứng dịch tễ học hạn chế gợi ý rằng nguy cơ VTE khi sử dụng Qlaira có thể trong phạm vi tương tự như nguy cơ với các CHC khác, bao gồm CHC có chứa levonorgestrel.
Số ca VTE mỗi năm có CHC liều thấp cũng ít hơn số ca dự kiến ở phụ nữ trong khi mang thai hoặc trong giai đoạn hậu sản.
VTE có thể gây tử vong ở 1-2% số ca.
Trong số ca cực kỳ hiếm gặp, huyết khối đã được báo cáo xảy ra ở người dùng CHC trong các mạch máu khác, ví dụ: tĩnh mạch và động mạch gan, mạc treo, thận hoặc võng mạc.
1 Điểm giữa của phạm vi dao động là 5-7 trên 10.000 WY, dựa trên nguy cơ tương đối của CHC chứa levonorgestrel so với không sử dụng là khoảng 2,3 đến 3,6.
Các yếu tố nguy cơ của VTE
Tham khảo thêm nội dung tờ hướng dẫn sử dụng thuốc.
Khối u
Tăng nguy cơ ung thư cổ tử cung ở người dùng COC dài hạn (> 5 năm) đã được báo cáo trong một số nghiên cứu dịch tễ, nhưng điều này vẫn còn đang gây tranh cãi về mức độ có thể quy gán phát hiện này cho các hiệu ứng gây nhiễu bao gồm hành vi tình dục và các yếu tố khác như vi rút u nhú ở người (HPV).
Một phân tích gộp từ 54 nghiên cứu dịch tễ đã báo cáo rằng có nguy cơ tương đối tăng lên một chút (RR = 1,24) đối với ung thư vú được chẩn đoán ở phụ nữ hiện đang dùng COC. Nguy cơ tăng này dần biến mất trong thời gian 10 năm sau khi dừng sử dụng COC. Bởi vì ung thư vú hiếm gặp ở phụ nữ dưới 40 tuổi, số ca chẩn đoán ung thư vú nhiều hơn ở người dùng COC hiện tại và mới đây là nhỏ so với nguy cơ ung thư vú tổng thể. Những nghiên cứu này không cung cấp bằng chứng về quan hệ nhân quả. Kiểu tăng nguy cơ quan sát thấy có thể là do việc chẩn đoán ung thư vú sớm hơn ở người dùng COC, tác dụng sinh học của COC, hoặc kết hợp cả hai. Ung thư vú được chẩn đoán ở người từng dùng thuốc thường ít tiến triển trên lâm sàng hơn ung thư được chẩn đoán ở người chưa từng dùng thuốc.
Người dùng COC đã báo cáo ca bệnh hiếm gặp là khối u gan lành tính và ca bệnh còn hiếm gặp hơn là khối u gan ác tính. Trong một số ca riêng lẻ, các khối u này dẫn đến xuất huyết trong ổ bụng gây đe dọa tính mạng. Cần cân nhắc đến khối u gan trong chẩn đoán phân biệt khi có đau bụng trên nặng, gan to hoặc dấu hiệu xuất huyết trong ổ bụng xảy ra ở phụ nữ dùng COC.
Tham khảo thêm nội dung các thận trọng trong tờ hướng dẫn sử dụng thuốc.
Chưa có nghiên cứu nào được thực hiện về tác dụng lên khả năng điều khiển và sử dụng máy móc. Không quan sát thấy có tác dụng lên khả năng điều khiển và sử dụng máy móc ở người dùng COC.
Không nên sử dụng Qlaira trong thời kỳ mang thai.
Nếu phát hiện mang thai trong khi đang dùng Qlaira, phải ngừng sử dụng thuốc. Tuy nhiên, các nghiên cứu dịch tễ học sâu rộng với thuốc COC chứa ethinylestradiol đã cho thấy không tăng nguy cơ khiếm khuyết khi sinh ở trẻ sinh ra từ phụ nữ sử dụng COC trước khi mang thai và không có tác dụng gây quái thai khi vô tình dùng COC trong khi mang thai. Các nghiên cứu trên động vật không cho thấy nguy cơ độc tính đối với sự sinh sản (xem mục “Dữ liệu an toàn tiền lâm sàng”).
Cần cân nhắc đến việc tăng nguy cơ VTE trong giai đoạn hậu sản khi bắt đầu lại Qlaira (xem mục “Cách dùng, liều dùng” và “Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc”).
Khả năng sinh sản
Qlaira được chỉ định để tránh thai. Để biết thông tin về việc khôi phục lại khả năng sinh sản, xem mục “Dược lực học”.
Việc cho con bú có thể bị ảnh hưởng bởi COC vì thuốc có thể làm giảm số lượng và thay đổi thành phần sữa mẹ. Vì vậy, việc sử dụng COC nhìn chung không được khuyến cáo cho đến khi người mẹ đã cho con cai sữa hoàn toàn. Một lượng nhỏ steroid tránh thai và/hoặc các chất chuyển hóa của chúng có thể được bài tiết qua sữa. Lượng chất này có thể ảnh hưởng đến đứa trẻ.
Lưu ý: Cần tham khảo thông tin kê đơn của các thuốc dùng đồng thời để xác định các tương tác tiềm ẩn.
Các nghiên cứu tương tác mới chỉ được thực hiện ở người lớn.
Các tương tác sau đây đã được báo cáo trong y văn với COC nói chung và đã được nghiên cứu trong các thử nghiệm lâm sàng với Qlaira.
Tác dụng của các sản phẩm thuốc khác lên Qlaira
Tương tác có thể xảy ra với các thuốc gây cảm ứng các enzyme của microsome, có thể dẫn đến tăng thanh thải các hormon sinh dục và có thể dẫn đến ra máu đột ngột và/hoặc thất bại trong tránh thai.
Quản lý
Cảm ứng enzyme có thể quan sát thấy được sau vài ngày điều trị. Mức cảm ứng enzyme tối đa nhìn chung thấy được trong vòng vài tuần. Sau khi ngừng liệu pháp thuốc, cảm ứng enzyme có thể duy trì trong khoảng 4 tuần.
Điều trị ngắn hạn:
Phụ nữ được điều trị với các thuốc gây cảm ứng enzyme nên tạm thời sử dụng biện pháp rào cản hoặc một biện pháp tránh thai khác ngoài COC. Phải dùng biện pháp rào cản trong toàn bộ thời gian dùng liệu pháp thuốc đồng thời và trong 28 ngày sau khi ngừng dùng thuốc đó.
Nếu liệu pháp thuốc kéo dài qua ngày kết thúc thuốc có hoạt chất trong liệu pháp COC, phải vứt bỏ các viên thuốc giả dược và bắt đầu liệu pháp COC tiếp theo ngay lập tức.
Điều trị lâu dài
Ở những phụ nữ điều trị lâu dài với các hoạt chất gây cảm ứng enzyme gan, nên dùng một biện pháp tránh thai khác không chứa hormon, đáng tin cậy.
Các chất làm tăng độ thanh thải COC (làm giảm hiệu quả của COC bằng cách gây cảm ứng enzym), ví dụ:
Barbiturat, carbamazepin, phenytoin, primidon, rifampicin, và thuốc kháng HIV là ritonavir, nevirapin và efavirenz và có thể là felbamat, griseofulvin, oxcarbazepin, topiramat và các sản phẩm chứa thuốc thảo dược St. John’s wort (hypericum perforatum).
Trong một nghiên cứu lâm sàng, chất gây cảm ứng mạnh cytochrom P450 (CYP 3A4) là rifampicin dẫn đến giảm đáng kể nồng độ ở trạng thái ổn định và mức tiếp xúc toàn thân với dienogest và estradiol. AUC (0-24h) của dienogest và estradiol ở trạng thái ổn định giảm lần lượt 83% và 44%.
Các chất có tác dụng khác nhau đối với độ thanh thải COC:
Khi dùng đồng thời với COC, nhiều dạng kết hợp của thuốc ức chế protease HIV và thuốc ức chế men sao chép ngược không nucleosid, bao gồm các dạng kết hợp với thuốc ức chế HIV có thể làm tăng hoặc giảm nồng độ estrogen hoặc progestin trong huyết tương. Tác động ròng của những thay đổi này có thể có ý nghĩa lâm sàng trong một số trường hợp.
Vì vậy, cần tham khảo thông tin kê đơn của các thuốc HIV/HCV dùng đồng thời để xác định các tương tác tiềm ẩn và mọi khuyến cáo liên quan. Trong trường hợp có bất kỳ nghi ngờ nào, nên dùng biện pháp tránh thai rào cản bổ sung cho phụ nữ đang điều trị thuốc ức chế protease hoặc liệu pháp ức chế men sao chép ngược không nucleosid.
Các chất làm giảm độ thanh thải của COC (chất ức chế enzym):
Dienogest là một cơ chất của CYP3A4.
Vẫn chưa xác định được ý nghĩa lâm sàng của những tương tác tiềm ẩn với các chất ức chế enzym.
Dùng đồng thời với các chất ức chế CYP3A4 mạnh có thể làm tăng nồng độ estrogen hoặc progestin hoặc cả hai trong huyết tương.
Dùng đồng thời với chất ức chế enzyme CYP3A4 mạnh là ketoconazol dẫn đến tăng AUC(0-24h) ở trạng thái ổn định của dienogest và estradiol lần lượt 2,9 và 1,6 lần. Dùng đồng thời chất ức chế trung bình là erythromycin làm tăng AUC (0-24h) của dienogest và estradiol ở trạng thái ổn định lần lượt 1,6 và 1,3 lần.
Tác dụng của Qlaira lên các sản phẩm thuốc khác
Các thuốc tránh thai dạng uống có thể ảnh hưởng đến việc chuyển hóa một số hoạt chất khác. Theo đó, nồng độ trong huyết tương và trong mô có thể tăng (ví dụ: cyclosporin) hoặc giảm (ví dụ: lamotrigin).
Dược động học của nifedipin không bị ảnh hưởng bởi việc dùng đồng thời 2 mg dienogest + 0.03 mg ethinylestradiol, do đó khẳng định kết quả của các nghiên cứu in vitro cho thấy rằng Qlaira khó có khả năng ức chế các enzym CYP ở liều trị liệu.
Các tương tác khác
Trong các thử nghiệm lâm sàng với phác đồ kết hợp điều trị HCV gồm ombitasvir/paritaprevir/ritonavir có và không có dasabuvir, tăng ALT trên 5 lần giới hạn trên của khoảng bình thường (ULN) xảy ra thường xuyên hơn đáng kể ở phụ nữ sử dụng các sản phẩm thuốc chứa ethinylestradiol như CHC. Phụ nữ sử dụng các sản phẩm thuốc chứa oestrogen không phải ethinylestradiol, như là estradiol, có tỷ lệ tăng ALT tương tự như những người không dùng bất kỳ loại oestrogen nào; tuy nhiên, do số lượng phụ nữ dùng các loại oestrogen khác có hạn, cần thận trọng khi dùng đồng thời với phác đồ thuốc kết hợp ombitasvir/paritaprevir/ritonavir có hoặc không có dasabuvir cũng như phác đồ glecaprevir/pibrentasvir (xem mục “Cảnh báo thận trọng khi dùng thuốc”).
Những xét nghiệm
Sử dụng steroid tránh thai có thể ảnh hưởng đến kết quả của một số xét nghiệm, bao gồm các chỉ số sinh hóa của gan, tuyến giáp, chức năng thượng thận và thận, nồng độ trong huyết tương của các protein (chất mang), ví dụ như globulin gắn corticosteroid và phân đoạn lipid/lipoprotein, các chỉ số chuyển hóa carbohydrat và các chỉ số về đông máu và tiêu sợi huyết. Mức thay đổi nhìn chung vẫn nằm trong phạm vi xét nghiệm bình thường.
Tương kỵ
Bởi vì không có nghiên cứu nào về tính tương kỵ của thuốc, không trộn thuốc này với thuốc khác.
Bảo quản dưới 30°C
:format(webp)/Nguyen_Kim_Thuy_ea92026f36.png)
Dược sĩ Đại học Ngô Kim Thúy
Đã kiểm duyệt nội dung
Tốt nghiệp loại giỏi trường Đại học Y Dược Huế. Từng tham gia nghiên cứu khoa học đề tài về Dược liệu. Nhiều năm kinh nghiệm làm việc trong lĩnh vực Dược phẩm. Hiện đang là giảng viên cho Dược sĩ tại Nhà thuốc Long Châu.
Tốt nghiệp loại giỏi trường Đại học Y Dược Huế. Từng tham gia nghiên cứu khoa học đề tài về Dược liệu. Nhiều năm kinh nghiệm làm việc trong lĩnh vực Dược phẩm. Hiện đang là giảng viên cho Dược sĩ tại Nhà thuốc Long Châu.
Nếu không dùng thuốc tránh thai chứa hormon nào trước đó, nên bắt đầu uống Qlaira vào ngày đầu tiên của chu kỳ kinh nguyệt tự nhiên (tức ngày đầu tiên ra máu). Nếu chuyển từ một loại thuốc tránh thai kết hợp khác, cần bắt đầu Qlaira vào ngày sau ngày dùng viên nén có hoạt chất cuối cùng của vỉ thuốc cũ. Các trường hợp chuyển đổi khác cần tuân theo hướng dẫn cụ thể của bác sĩ.
Bên cạnh công dụng chính là thuốc tránh thai đường uống, Qlaira còn được chỉ định để điều trị tình trạng chảy máu kinh nguyệt nhiều ở những phụ nữ không có nguyên nhân bệnh lý thực thể và lựa chọn sử dụng biện pháp tránh thai đường uống. Điều này giúp giải quyết đồng thời hai vấn đề thường gặp ở phụ nữ.
Nếu quên uống thuốc trễ dưới 12 giờ, khả năng tránh thai không giảm. Cần uống viên thuốc đó ngay khi nhớ ra và tiếp tục các viên sau như thường lệ. Nếu trễ hơn 12 giờ, khả năng bảo vệ có thể giảm. Cần tuân theo hướng dẫn chi tiết trong tờ hướng dẫn sử dụng tùy thuộc vào ngày quên thuốc trong chu kỳ, và có thể cần sử dụng thêm biện pháp tránh thai dự phòng như bao cao su trong 9 ngày tiếp theo.
Tăng cân là một trong những tác dụng phụ thường gặp được báo cáo khi sử dụng Qlaira (tần suất ≥ 1/100 đến <1/10). Tuy nhiên, phản ứng của cơ thể với thuốc là khác nhau ở mỗi người. Nếu có lo ngại về việc tăng cân, cần thảo luận với bác sĩ để được tư vấn thêm.
Tác dụng tránh thai của thuốc sẽ hết sau khi ngừng uống. Mô học nội mạc tử cung đã được nghiên cứu trong một phân nhóm phụ nữ (n=218) trong một nghiên cứu lâm sàng sau 20 chu kỳ điều trị. Không có kết quả bất thường nào.

Hãy sử dụng sản phẩm và trở thành người đầu tiên đánh giá trải nghiệm nha.
Lọc theo:
Nguyễn Bích DiệpDược sĩ
Chào Chị Yến ,
Tư vấn viên nhà thuốc Long Châu sẽ sớm liên hệ với chị qua số điện thoại đã cung cấp để hỗ trợ thêm ạ.
Hữu ích
Trả lời:format(webp)/qlaira_bayer_1x28_00053550_1_c33d8a0543.png)
Yến
Hữu ích
Trả lời