29/07/2026
Mặc định
Lớn hơn
Tên thuốc gốc (Hoạt chất)
Sulpiride
Loại thuốc
Thuốc an thần (dẫn xuất Benzamide)
Dạng thuốc và hàm lượng
Chỉ định phụ thuộc từng quốc gia. Chỉ định phổ biến nhất là điều trị tâm thần phân liệt cấp và mạn; một số quốc gia còn cấp phép cho một số chỉ định khác như chóng mặt hoặc rối loạn lo âu ngắn hạn.
Sulpiride là một dẫn xuất của benzamide, thuộc nhóm thuốc chống loạn thần điển hình (typical antipsychotic). Thuốc có tác dụng chủ yếu thông qua đối kháng chọn lọc trên các thụ thể dopamine D₂ và D₃, từ đó làm giảm hoạt động dopaminergic quá mức ở não – cơ chế được cho là liên quan đến hiệu quả điều trị các triệu chứng của tâm thần phân liệt.
So với nhiều thuốc chống loạn thần khác, sulpiride có ái lực thấp hoặc hầu như không đáng kể với các thụ thể serotonin (5-HT), adrenergic, histamin H₁ và muscarinic cholinergic. Vì vậy, thuốc ít gây các tác dụng không mong muốn liên quan đến hoạt tính kháng cholinergic và kháng histamin.
Ở liều thấp, sulpiride có thể cải thiện một số triệu chứng như giảm động lực, giảm hứng thú hoặc khí sắc ở một số bệnh nhân; trong khi ở liều điều trị cao hơn, thuốc phát huy tác dụng chống loạn thần và được chỉ định chủ yếu trong điều trị tâm thần phân liệt. Hiệu quả điều trị thường xuất hiện dần sau vài tuần, mặc dù một số triệu chứng như kích động hoặc lo âu có thể cải thiện sớm hơn.
Sulpiride có sinh khả dụng qua đường uống là 27 ± 9%.
Nồng độ đỉnh sulpiride trong huyết thanh đạt được sau 3 - 6 giờ sau khi uống.
Thể tích phân bố trung bình của sulpiride là 2,72 ± 0,66 L / kg.
Khoảng 40% sulpiride liên kết với protein huyết tương.
Sulpiride được chuyển hóa rất ít. Phần lớn thuốc được thải trừ dưới dạng không đổi.
Thời gian bán thải trong huyết tương ở người khoảng 8 giờ. Sulpiride được đào thải chủ yếu qua nước tiểu dưới dạng không đổi.
Đối kháng với levodopa và các thuốc chủ vận dopamin.
Kết hợp với các thuốc gây nhịp tim chậm, thuốc gây mất cân bằng điện giải có thể gây ra xoắn đỉnh hoặc kéo dài khoảng QT.
Dùng chung với thuốc hạ huyết áp: Tăng khả năng hạ huyết áp tư thế.
Thuốc kháng acid hoặc sucralfat: Giảm hấp thu sulpiride sau khi dùng đồng thời, nên dùng sulpiride hai giờ trước khi dùng các thuốc này.
Dùng chung với Lithium có thể tăng nguy cơ tác dụng ngoại tháp.
Rượu: Tăng cường tác dụng an thần của thuốc, cần tránh tiêu thụ đồ uống có cồn và thuốc có chứa cồn.
Quá mẫn với sulpiride hoặc với bất kỳ thành phần nào của thuốc.
U tủy thượng thận và rối loạn chuyển hóa porphyrin cấp tính.
Có các khối u phụ thuộc prolactin (ví dụ u tuyến yên và ung thư vú).
Đang dùng levodopa hoặc thuốc chủ vận dopamin (trừ một số trường hợp đặc biệt theo chỉ định chuyên khoa).
Liều khởi đầu thường từ 400 - 800 mg/ngày, chia thành 2 lần uống (buổi sáng và đầu giờ chiều). Liều dùng cần được điều chỉnh tùy theo đáp ứng lâm sàng và khả năng dung nạp của từng bệnh nhân.
Ở bệnh nhân có triệu chứng dương tính chiếm ưu thế (như rối loạn tư duy, hoang tưởng, ảo giác hoặc cảm xúc không phù hợp), thường cần liều cao hơn. Có thể bắt đầu với 400 mg x 2 lần/ngày và điều chỉnh tăng dần nếu cần. Liều tối đa thường không vượt quá 1.600 mg/ngày, trừ khi có chỉ định chuyên khoa và theo hướng dẫn của chế phẩm cụ thể.
Ở bệnh nhân có triệu chứng âm tính chiếm ưu thế (như cảm xúc cùn mòn, nghèo ngôn ngữ, giảm động lực hoặc thờ ơ), liều thấp hơn thường có hiệu quả. Có thể bắt đầu với 400 mg x 2 lần/ngày và điều chỉnh theo đáp ứng lâm sàng.
Đối với bệnh nhân có cả triệu chứng dương tính và âm tính mà không có nhóm triệu chứng nào chiếm ưu thế, liều 400 - 600 mg x 2 lần/ngày thường đáp ứng tốt và có thể được điều chỉnh tùy theo tình trạng lâm sàng.
Kinh nghiệm lâm sàng ở trẻ em dưới 14 tuổi không đủ để cho phép các khuyến nghị cụ thể.
Giảm liều nếu có bằng chứng về suy thận.
Tăng prolactin máu, mất ngủ hoặc buồn ngủ, hội chứng ngoại tháp, Parkinson, run, rối loạn cảm xúc, táo bón, tăng men gan, phát ban dát sần, đau vú, tăng cân.
Tăng trương lực, rối loạn vận động và loạn trương lực cơ, hạ huyết áp thế đứng, tăng tiết nước bọt, vú to, vô kinh, cực khoái bất thường, rối loạn cương dương.
Cơn co cứng liếc mắt (oculogyric crisis).
Giảm bạch cầu trung tính, mất bạch cầu hạt, phản ứng phản vệ bao gồm nổi mày đay, khó thở, hạ huyết áp và sốc phản vệ, hội chứng ác tính an thần kinh, giảm vận động, rối loạn vận động chậm, co giật, điện tâm đồ QT kéo dài, ngừng tim, xoắn đỉnh, đột tử, thuyên tắc tĩnh mạch, thuyên tắc phổi, huyết khối tĩnh mạch sâu.
Tăng kích động vận động khi dùng liều cao xuất hiện ở một số ít bệnh nhân.
Phản ứng ngoại tháp đã được báo cáo trong một số ít trường hợp.
Hội chứng an thần kinh ác tính, một biến chứng có thể gây tử vong, đặc trưng bởi tăng thân nhiệt, cứng cơ, mất ổn định tự chủ, thay đổi ý thức và tăng CPK, đã được báo cáo.
Bệnh nhân cao tuổi dễ bị hạ huyết áp tư thế, tác dụng an thần và ngoại tháp.
Hội chứng ngưng thuốc cấp tính bao gồm buồn nôn, nôn, đổ mồ hôi và mất ngủ đã được mô tả sau khi ngừng thuốc đột ngột. Các triệu chứng loạn thần tái phát cũng có thể xảy ra, và sự xuất hiện của các rối loạn vận động không tự chủ đã được báo cáo. Do đó, cần giảm liều từ từ.
Sulpiride làm tăng tỷ lệ tử vong ở người cao tuổi mắc chứng sa sút trí tuệ.
Các trường hợp huyết khối tĩnh mạch (VTE) đã được báo cáo khi dùng thuốc.
Cần thận trọng và cần theo dõi chặt chẽ bệnh nhân có tiền sử hoặc tiền sử gia đình bị ung thư vú trong khi điều trị bằng sulpiride.
Bệnh nhân động kinh không ổn định và bệnh nhân có tiền sử động kinh nên được theo dõi chặt chẽ trong khi điều trị bằng sulpiride.
Các trường hợp co giật, đôi khi ở những bệnh nhân không có tiền sử trước đó đã được báo cáo.
Ở những bệnh nhân cần dùng sulpiride đang được điều trị chống co giật không nên thay đổi liều lượng của thuốc chống co giật.
Thận trọng cho những bệnh nhân có tiền sử bệnh tăng nhãn áp, tắc ruột, hẹp tiêu hóa bẩm sinh, giữ nước tiểu hoặc tăng sản tuyến tiền liệt. Nên giảm liều và điều chỉnh liều từ từ trong trường hợp suy thận.
Sulpiride làm kéo dài khoảng QT, làm tăng nguy cơ rối loạn nhịp thất nghiêm trọng như xoắn đỉnh.
Tránh điều trị đồng thời với các thuốc an thần kinh khác.
Thận trọng cho những bệnh nhân có các yếu tố nguy cơ đột quỵ.
Giảm bạch cầu, giảm bạch cầu trung tính và mất bạch cầu hạt đã được báo cáo khi dùng sulpiride. Nhiễm trùng hoặc sốt không rõ nguyên nhân có thể là bằng chứng của rối loạn chức năng máu và cần điều tra huyết học ngay lập tức.
Thận trọng cho bệnh nhân tăng huyết áp, đặc biệt là ở người cao tuổi.
Bệnh nhân có các vấn đề di truyền hiếm gặp về không dung nạp galactose, thiếu men Lapp lactase hoặc kém hấp thu glucose-galactose không nên dùng thuốc này.
Sulpiride đi qua nhau thai.
Việc sử dụng sulpiride không được khuyến cáo trong thời kỳ mang thai và ở những phụ nữ có khả năng mang thai mà không sử dụng biện pháp tránh thai hiệu quả, trừ khi lợi ích mang lại tương xứng với rủi ro tiềm ẩn.
Trẻ sơ sinh tiếp xúc với Sulpiride trong ba tháng cuối của thai kỳ có nguy cơ bị các phản ứng có hại bao gồm các triệu chứng ngoại tháp và/hoặc cai thuốc có thể khác nhau về mức độ nghiêm trọng và thời gian sau khi sinh. Đã có báo cáo về tình trạng kích động, tăng trương lực, giảm trương lực cơ, run, buồn ngủ, suy hô hấp hoặc rối loạn ăn uống. Do đó, trẻ sơ sinh cần được theo dõi cẩn thận.
Sulpiride được bài tiết vào sữa mẹ với một lượng khá lớn, nhưng nồng độ trong máu ở trẻ bú mẹ chưa được đánh giá. Không có đủ thông tin về tác dụng của sulpiride ở trẻ sơ sinh/trẻ nhỏ.
Phải cân nhắc giữa lợi ích và nguy cơ trong việc đưa ra quyết định ngưng cho con bú hoặc bỏ điều trị bằng sulpiride.
Sulpiride có thể gây an thần do đó khả năng lái xe hoặc vận hành máy móc có thể bị suy giảm.
Quá liều và độc tính
Kinh nghiệm lâm sàng về quá liều sulpiride còn hạn chế. Mức độ ngộ độc phụ thuộc vào liều dùng, tình trạng lâm sàng của người bệnh và việc có sử dụng đồng thời các thuốc hoặc chất khác hay không.
Các biểu hiện lâm sàng của quá liều sulpiride có thể bao gồm kích động, bồn chồn, lú lẫn, buồn ngủ, hạ huyết áp, các triệu chứng ngoại tháp (như run, loạn trương lực cơ, cứng cơ), kéo dài khoảng QT trên điện tâm đồ và rối loạn nhịp thất, bao gồm xoắn đỉnh. Trong các trường hợp nặng có thể xảy ra hôn mê, suy hô hấp hoặc ngừng tim.
Mặc dù nhiều trường hợp quá liều sulpiride có diễn biến thuận lợi khi được điều trị hỗ trợ, đã có báo cáo về các trường hợp tử vong, đặc biệt khi dùng liều rất cao hoặc khi phối hợp với các thuốc hướng thần hoặc các thuốc khác có độc tính trên tim mạch hoặc thần kinh trung ương.
Hiện chưa có bằng chứng cho thấy quá liều sulpiride gây độc tính đặc hiệu trên gan hoặc hệ tạo máu; tuy nhiên, người bệnh cần được theo dõi đầy đủ các chức năng sống và các biến chứng có thể xảy ra cho đến khi hồi phục hoàn toàn.
Cách xử lý khi quá liều
Không có thuốc giải độc đặc hiệu cho sulpiride. Việc điều trị chủ yếu là điều trị hỗ trợ và điều trị triệu chứng.
Cần theo dõi chặt chẽ các dấu hiệu sinh tồn, tình trạng ý thức và điện tâm đồ (ECG), đặc biệt ở những bệnh nhân có nguy cơ kéo dài khoảng QT hoặc rối loạn nhịp thất. Theo dõi nên được duy trì cho đến khi người bệnh hồi phục hoàn toàn.
Trong trường hợp xuất hiện các triệu chứng ngoại tháp nặng (như loạn trương lực cơ hoặc cơn co cứng), có thể sử dụng thuốc kháng cholinergic (ví dụ: benztropine hoặc biperiden) theo chỉ định của bác sĩ để kiểm soát triệu chứng.
Nếu người bệnh hôn mê hoặc suy giảm ý thức, cần đảm bảo đường thở, hỗ trợ hô hấp và tuần hoàn khi cần thiết, đồng thời tiếp tục theo dõi tim mạch và điều trị các biến chứng phát sinh.
Sulpiride chỉ được loại bỏ một phần bằng thẩm tách máu, tuy nhiên hiệu quả của phương pháp này còn hạn chế và không được khuyến cáo như một biện pháp điều trị thường quy đối với quá liều sulpiride.
Không khuyến cáo sử dụng bài niệu cưỡng bức, kiềm hóa nước tiểu hoặc thuốc gây nôn trong xử trí quá liều sulpiride do chưa có bằng chứng cho thấy các biện pháp này mang lại lợi ích lâm sàng.
Nếu quên dùng một liều thuốc, hãy uống càng sớm càng tốt khi nhớ ra. Tuy nhiên, nếu gần với liều kế tiếp, hãy bỏ qua liều đã quên và uống liều kế tiếp vào thời điểm như kế hoạch. Không uống gấp đôi liều đã quy định
Tên thuốc: Sulpiride
Ngày cập nhật: 18/07/2021