28/02/2026
Mặc định
Lớn hơn
Zofenopril là một thuốc ức chế men chuyển angiotensin (ACE inhibitor), được sử dụng chủ yếu trong điều trị tăng huyết áp và hỗ trợ điều trị suy tim hoặc sau nhồi máu cơ tim. Hoạt chất này hoạt động bằng cách ức chế hệ renin - angiotensin - aldosterone, giúp giãn mạch và giảm gánh nặng cho tim. Zofenopril là tiền dược, chuyển hóa thành zofenoprilat có hoạt tính trong cơ thể. Cần thận trọng ở bệnh nhân suy thận, hẹp động mạch thận hoặc có nguy cơ tăng kali máu.
Tên thuốc gốc (Hoạt chất)
Zofenopril
Loại thuốc
Zofenopril là thuốc ức chế men chuyển angiotensin (ACE inhibitor), thuộc nhóm thuốc tim mạch.
Dạng thuốc và hàm lượng
Zofenopril được bào chế chủ yếu dưới dạng viên nén bao phim dùng đường uống. Hàm lượng thường gặp: 7,5 mg, 15 mg, 30 mg.

Zofenopril được sử dụng trong các trường hợp sau:
Zofenopril là một tiền dược. Sau khi uống, hoạt chất này được hấp thu qua đường tiêu hóa và nhanh chóng chuyển hóa gần như hoàn toàn thành zofenoprilat – chất có hoạt tính chứa nhóm sulfhydryl. Ở người khỏe mạnh, liều đơn 10 mg cho thấy sinh khả dụng trung bình khoảng 93%.
Zofenopril là thuốc ức chế men chuyển (ACE) có hiệu lực mạnh, có xu hướng tập trung tốt ở mô và duy trì tác dụng kéo dài. Ngoài cơ chế ức chế ACE, zofenoprilat còn có đặc tính chống oxy hóa, góp phần hỗ trợ bảo vệ tim mạch và tăng giá trị trong điều trị cũng như phòng ngừa biến cố tim mạch.
Zofenopril được hấp thu nhanh và gần như hoàn toàn qua đường tiêu hóa, sau đó chuyển hóa mạnh thành zofenoprilat có hoạt tính. Nồng độ đỉnh của chất chuyển hóa thường đạt được khoảng 1,5 giờ sau khi dùng thuốc. Dược động học của liều đơn cho thấy tính tuyến tính trong khoảng 10 - 80 mg, và không ghi nhận hiện tượng tích lũy đáng kể khi sử dụng liều 15 - 60 mg trong 3 tuần liên tiếp.
Thức ăn có thể làm chậm tốc độ hấp thu nhưng không ảnh hưởng đáng kể đến tổng lượng thuốc được hấp thu (AUC). Vì vậy, tác động dược động học nhìn chung tương đương khi dùng thuốc lúc no hoặc lúc đói.
Sau khi dùng một liều Zofenopril có đánh dấu phóng xạ, các nghiên cứu ex-vivo cho thấy khoảng 88% hoạt tính phóng xạ gắn với protein huyết tương. Thể tích phân bố ở trạng thái ổn định vào khoảng 96 lít, cho thấy thuốc phân bố tương đối rộng trong cơ thể.
Zofenopril được chuyển hóa mạnh sau khi hấp thu. Khi sử dụng dạng gắn phóng xạ, ghi nhận tám chất chuyển hóa trong nước tiểu, chiếm khoảng 76% tổng hoạt tính phóng xạ. Zofenoprilat là chất chuyển hóa chính (khoảng 22%), ngoài ra còn có các sản phẩm liên hợp glucuronid, liên hợp cystein, dạng vòng hóa và methyl hóa tại nhóm thiol. Thời gian bán thải của zofenoprilat khoảng 5,5 giờ, với độ thanh thải toàn phần xấp xỉ 1300 mL/phút sau khi dùng Zofenopril calci đường uống.
Sau khi tiêm tĩnh mạch zofenoprilat có gắn phóng xạ, thuốc được thải chủ yếu qua nước tiểu (khoảng 76%) và một phần qua phân (16%). Với đường uống Zofenopril, tỷ lệ thu hồi hoạt tính phóng xạ khoảng 69% trong nước tiểu và 26% trong phân. Điều này cho thấy thuốc được đào thải qua cả thận và gan.

Các tương tác thuốc của Zofenopril như:
Zofenopril không được sử dụng trong các trường hợp sau:

Người lớn
Tăng huyết áp
Liều khởi đầu thường là 15 mg/ngày, dùng 1 lần. Có thể tăng liều sau mỗi 4 tuần dựa trên đáp ứng huyết áp. Liều duy trì thông thường là 30 mg/ngày, tối đa 60 mg/ngày, dùng 1 lần hoặc chia 2 lần.
Ở bệnh nhân nghi ngờ mất dịch hoặc giảm natri, nên bắt đầu 7,5 - 15 mg/ngày và theo dõi sát nguy cơ hạ huyết áp.
Nhồi máu cơ tim cấp
Bắt đầu điều trị trong vòng 24 giờ sau khởi phát triệu chứng và duy trì trong 6 tuần.
Không tăng liều nếu huyết áp tâm thu < 120 mmHg, ngừng thuốc nếu hạ huyết áp nặng kéo dài.
Trẻ em
Hiện nay, các bằng chứng lâm sàng về mức độ an toàn và hiệu quả của thuốc/biện pháp này vẫn còn hạn chế, chưa đủ cơ sở để đưa ra khuyến nghị sử dụng rộng rãi. Do đó, không nên chỉ định cho người dưới 18 tuổi khi chưa có đánh giá chuyên môn và cân nhắc lợi ích và nguy cơ cụ thể.
Đối tượng khác
Suy thận:
Hiệu quả và độ an toàn chưa được thiết lập đầy đủ ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim có suy thận nặng.
Suy gan:
Người cao tuổi: Nếu chức năng thận bình thường, không cần chỉnh liều. Nếu độ thanh thải creatinin < 45 mL/phút, nên giảm 1/2 liều.
Zofenopril dùng đường uống, có thể dùng trước, trong hoặc sau bữa ăn. Nên uống vào cùng một thời điểm mỗi ngày. Liều cụ thể cần cá thể hóa theo tình trạng lâm sàng và theo dõi của bác sĩ.

Zofenopril có thể gây một số tác dụng không mong muốn thường gặp như chóng mặt và nhức đầu do tác động hạ huyết áp lên hệ thần kinh trung ương. Trên hệ hô hấp, ho khan kéo dài là biểu hiện điển hình của nhóm thuốc ức chế men chuyển. Về tiêu hóa, người bệnh có thể buồn nôn hoặc nôn. Ngoài ra, cảm giác mệt mỏi toàn thân cũng được ghi nhận trong quá trình điều trị.
Một số tác dụng phụ ít gặp bao gồm:
Tác dụng phụ hiếm gặp của Zofenopril như:
Trong một số trường hợp rất hiếm, Zofenopril có thể gây hạ đường huyết do ảnh hưởng đến chuyển hóa, đặc biệt ở bệnh nhân đái tháo đường đang điều trị phối hợp. Trên hệ tiêu hóa, đã ghi nhận các báo cáo về viêm tụy hoặc phù mạch ruột. Các phản ứng da nghiêm trọng như hội chứng Stevens-Johnson hoặc hoại tử biểu bì nhiễm độc cũng có thể xảy ra nhưng với tần suất rất thấp. Ngoài ra, thuốc có thể liên quan đến suy thận cấp, phù ngoại vi hoặc đau ngực trong những trường hợp cá biệt.

Khi sử dụng Zofenopril, cần đánh giá kỹ tiền sử bệnh, tình trạng tim mạch – thận – gan và các thuốc đang dùng kèm để hạn chế tối đa nguy cơ biến cố bất lợi. Việc theo dõi định kỳ giúp phát hiện sớm rối loạn huyết áp, điện giải và chức năng cơ quan đích.
Không khuyến cáo sử dụng Zofenopril trong 3 tháng đầu thai kỳ và chống chỉ định từ tam cá nguyệt thứ hai trở đi. Thuốc ức chế men chuyển có thể gây độc cho thai như suy giảm chức năng thận, thiểu ối, chậm cốt hóa xương sọ và tăng nguy cơ suy thận, hạ huyết áp, tăng kali máu ở trẻ sơ sinh.
Nếu phát hiện có thai trong thời gian điều trị, cần ngừng thuốc càng sớm càng tốt và chuyển sang phác đồ thay thế an toàn hơn. Trường hợp đã sử dụng thuốc từ giữa thai kỳ, cần theo dõi siêu âm chức năng thận và hộp sọ thai nhi, trẻ sau sinh cần được giám sát huyết áp chặt chẽ.
Chưa có đầy đủ dữ liệu về tính an toàn của Zofenopril trong thời kỳ cho con bú. Do nguy cơ tiềm ẩn trên trẻ sơ sinh, đặc biệt là trẻ sinh non hoặc trẻ trong giai đoạn đầu sau sinh, không khuyến cáo sử dụng thuốc. Nên cân nhắc lựa chọn thuốc điều trị khác đã có dữ liệu an toàn rõ ràng hơn.
Chưa có nghiên cứu chuyên biệt về ảnh hưởng của Zofenopril lên khả năng lái xe hoặc vận hành máy móc. Tuy nhiên, thuốc có thể gây chóng mặt, mệt mỏi hoặc buồn ngủ, đặc biệt khi bắt đầu điều trị hoặc tăng liều. Cần thận trọng nếu xuất hiện các triệu chứng này.
Quá liều và độc tính
Dùng Zofenopril quá liều có thể gây hạ huyết áp nghiêm trọng, sốc, chậm nhịp tim, rối loạn ý thức, rối loạn điện giải và suy thận cấp. Mức độ nặng phụ thuộc vào lượng thuốc đã dùng và tình trạng tim mạch - thận của người bệnh trước đó.
Cách xử lý khi quá liều
Người bệnh cần được theo dõi sát tại cơ sở y tế, ưu tiên đơn vị hồi sức tích cực nếu triệu chứng nặng. Cần kiểm tra huyết áp, điện giải và creatinin huyết thanh định kỳ.
Nếu phát hiện sớm sau khi uống, có thể cân nhắc rửa dạ dày và dùng chất hấp phụ để hạn chế hấp thu. Khi xảy ra hạ huyết áp, xử trí như sốc tuần hoàn bằng bù dịch và các biện pháp nâng huyết áp thích hợp, trong một số trường hợp có thể cần dùng angiotensin II. Chậm nhịp tim có thể điều trị bằng atropin hoặc đặt máy tạo nhịp nếu cần. Zofenoprilat có thể được loại bỏ một phần qua lọc máu, tuy nhiên nên tránh sử dụng màng lọc polyacrylonitril dòng cao.
Nếu quên một liều, nên uống ngay khi nhớ ra. Nếu gần đến thời điểm dùng liều tiếp theo, bỏ qua liều đã quên và tiếp tục theo lịch trình bình thường. Không dùng gấp đôi liều để bù vì có thể làm tăng nguy cơ hạ huyết áp quá mức.