Danh mục
Số đăng ký
Dạng bào chế
Quy cách
Thành phần
Nhà sản xuất
Nước sản xuất
Thuốc cần kê toa
Mô tả ngắn
Canpaxel 250 là dung dịch tiêm chứa dược chất Paclitaxel dùng trong một số trường hợp điều trị ung thư buồng trứng và ung thư vú theo chỉ định của bác sĩ.
Hạn sử dụng
Lưu ý
Thuốc Canpaxel 250 là gì?
Kích thước chữ
Mặc định
Lớn hơn
Thành phần cho 41.67ml
Thông tin thành phần | Hàm lượng |
|---|---|
Paclitaxel | 250mg |
Dung dịch tiêm Canpaxel 250 chỉ định điều trị trong các trường hợp sau:
Ung thư buồng trứng:
Canpaxel® là lựa chọn hàng đầu phối hợp với cisplatin trong điều trị ung thư buồng trứng giai đoạn tiến triển hoặc bướu tồn lưu (> 1cm) sau phẫu thuật mổ ổ bụng đầu tiên.
Canpaxel®là thuốc lựa chọn hàng thứ hai trong điều trị ung thư buồng trứng đã di căn sau khi thất bại với điều trị cơ bản bằng liệu pháp có cisplatin.
Ung thư vú:
Canpaxel® được chỉ định điều trị hỗ trợ carcinoma vú có hạch theo sau liệu pháp anthracylin và cyclophosphamid (AC). Điều trị hỗ trợ bằng Canpaxel® được xem như là một sự lựa chọn để kéo dài liệu pháp AC.
Canpaxel® được chỉ định điều trị khởi đầu ung thư vú lan rộng tại chỗ hoặc phối hợp với anthracyclin ở những bệnh nhân thích hợp, hoặc phối hợp với trastuzumab trên những bệnh nhân có HER-2 tăng quá mức ở độ 3 như đã được xác định bởi hóa mô miễn dịch và trên những bệnh nhân không thích hợp với liệu pháp anthracyclin.
Nếu dùng riêng lẻ Canpaxel® được chỉ định trong điều trị ung thư vú di căn trên những bệnh nhân đã thất bại hoặc không được chỉ định điều trị bằng liệu pháp chuẩn có anthracyclin.
Ung thư phổi không phải tế bào nhỏ giai đoạn tiến triển: Canpaxel® phối hợp với cisplatin trong chỉ định điều trị ung thư phổi không phải tế bào nhỏ (NSCLC) trên các bệnh nhân không còn khả năng phẫu trị và xạ trị.
Sacom Kaposi liên quan AIDS: Canpaxel® được chỉ định điều trị các bệnh nhân Sacom Kaposi liên quan AIDS lan rộng (KS) mà trước đó thất bại với liệu pháp anthracyclin liposomal.
Chưa có dữ liệu.
Chưa có dữ liệu.
Việc điều trị với paclitaxel phải được giám sát bởi các bác sĩ có kinh nghiệm trong điều trị ung thư. Trang bị đầy đủ sẵn sàng các thiết bị chẩn đoán và xử lý các biến chứng có thể xảy ra.
Việc pha thuốc để truyền tĩnh mạch phải do người có kinh nghiệm tiến hành, ở một phòng thích hợp. Khi pha thuốc cần phải mang găng tay và tiến hành thận trọng để tránh thuốc tiếp xúc với da và niêm mạc. Việc pha thuốc phải đảm bảo vô khuẩn.
Dung môi để pha loãng thuốc có thể là: Dung dịch natri clorid 0,9%, dung dịch glucose 5%, hỗn hợp dung dịch natri clorid 0,9 % và dung dịch glucose 5%, hoặc hỗn hợp dung dịch glucose 5% và dung dịch Ringer. Thông thường thuốc được pha vào một trong các dung dịch trên sao cho dịch truyền có nồng độ paclitaxel là 0,3 – 1,2 mg/ ml.
Tiến hành truyền dịch ngay hoặc trong vòng 3 giờ sau khi pha xong. Tuy nhiên độ ổn định lý hóa của dung dịch pha sẵn đã được chứng minh là 27 giờ khi bảo quản ở nhiệt độ phòng (khoảng 250C) và có ánh sáng. Không để dịch truyền đã pha vào tủ lạnh.
Chỉ dùng các lọ, chai truyền làm bằng thủy tinh, polypropylen hay polyolefin. Bộ dây truyền phải được làm bằng polyethylen.
Dự phòng quá mẫn trước khi dùng paclitaxel cũng như điều trị những đáp ứng phản vệ nguy hiểm tới tính mạng. Người bệnh cần phải được chuẩn bị trước như sau: Prednisolon: 30 – 40 mg (6 – 8 viên, 5 mg/viên), uống 12 giờ và 6 giờ trước khi truyền paclitaxel, cộng với thuốc kháng thụ thể H1 ví dụ clemastin: Truyền tĩnh mạch 2 mg trước khi truyền paclitaxel 30 – 60 phút (có thể dùng các thuốc kháng histamin khác), cộng với cimetidin (300 mg) hay ranitidin (50 mg): Truyền tĩnh mạch 30 – 60 phút trước khi truyền paclitaxel.
Ung thư buồng trứng:
Thuốc được lựa chọn hàng đầu: Paclitaxel 175 mg/m2 truyền tĩnh mạch trong 3 giờ, tiếp theo là cisplatin 75 mg/m2, lặp lại chu kỳ mỗi 3 tuần. Hoặc paclitaxel 135 mg/m2 truyền tĩnh mạch trong 24 giờ, tiếp theo là cisplatin 75 mg/m2, lặp lại chu kỳ mỗi 3 tuần.
Thuốc được lựa chọn hàng thứ hai: Paclitaxel 175 mg/m2 truyền tĩnh mạch trong 3 giờ, lặp lại chu kỳ sau mỗi 3 tuần.
Ung thư vú:
Hỗ trợ điều trị ung thư vú: Paclitaxel 175 mg/m2 truyền tĩnh mạch trong 3 giờ, lặp lại chu kỳ sau mỗi 3 tuần, 4 chu kỳ. Tiếp theo là liệu pháp AC.
Thuốc được lựa chọn hàng đầu trong điều trị ung thư vú:
Phối hợp với doxorubicin: Sau khi tiêm doxorubicin 50 mg/m2 khoảng 24 giờ, tiêm truyền tĩnh mạch paclitaxel 220 mg/m2 trong 3 giờ, lặp lại chu kỳ sau mỗi 3 tuần.
Phối hợp với trastuzumab: Paclitaxel 175 mg/m2 truyền tĩnh mạch trong 3 giờ, lặp lại chu kỳ sau mỗi 3 tuần. Tiêm truyền paclitaxel có thể bắt đầu vào ngày tiếp theo liều đầu tiên của trastuzumab hoặc ngay sau khi dùng trastuzumab nếu trastuzumab được dung nạp tốt.
Thuốc được lựa chọn hàng thứ hai: Paclitaxel 175 mg/m2 truyền tĩnh mạch trong 3 giờ, lặp lại chu kỳ sau mỗi 3 tuần.
Ung thư phổi không phải tế bào nhỏ giai đoạn tiến triển: Paclitaxel 175 mg/m2 truyền tĩnh mạch trong 3 giờ, tiếp theo là cisplatin 80 mg/m2, lặp lại chu kỳ mỗi 3 tuần.
Sacom Kaposi liên quan AIDS: Paclitaxel 100 mg/m2 truyền tĩnh mạch trong 3 giờ mỗi 2 tuần. Liều tiếp theo của paclitaxel phụ thuộc vào mức độ dung nạp của từng bệnh nhân.
Lưu ý: Liều dùng trên chỉ mang tính chất tham khảo. Liều dùng cụ thể tùy thuộc vào thể trạng và mức độ diễn tiến của bệnh. Để có liều dùng phù hợp, bạn cần tham khảo ý kiến bác sĩ hoặc chuyên viên y tế.
Trong trường hợp khẩn cấp, hãy gọi ngay cho Trung tâm cấp cứu 115 hoặc đến trạm Y tế địa phương gần nhất.
Bổ sung liều ngay khi nhớ ra. Tuy nhiên, nếu thời gian giãn cách với liều tiếp theo quá ngắn thì bỏ qua liều đã quên và tiếp tục lịch dùng thuốc. Không dùng liều gấp đôi để bù cho liều đã bị bỏ lỡ.
Thông báo cho thầy thuốc các tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.
Trước khi sử dụng thuốc bạn cần đọc kỹ hướng dẫn sử dụng và tham khảo thông tin bên dưới.
Thuốc Canpaxel 250 chống chỉ định trong các trường hợp sau:
Người quá mẫn với cremophor ELP. Trong chế phẩm có tá dược là cremophor ELP. Chất này có nhiều khả năng gây ra các đáp ứng kiểu phản vệ do làm giải phóng nhiều histamin. Do đó, cần dùng thuốc dự phòng quá mẫn trước khi điều trị và cần chuẩn bị sẵn sàng để đối phó với các đáp ứng phản vệ.
Phản ứng quá mẫn: Khó thở, hạ huyết áp, phù mạch và nổi mề đay toàn thân xảy ra < 1% đối với các bệnh nhân dùng paclitaxel sau khi đã được điều trị thích hợp. Các triệu chứng nhẹ như đỏ bừng hoặc phản ứng da không cần phải điều trị. Trong các trường hợp nặng, nên ngưng ngay paclitaxel và tiến hành điều trị triệu chứng.
Huyết học: Suy tủy (giảm bạch cầu trung tính nguyên phát) là biểu hiện ở những liều gây độc tính. Cần thường xuyên kiểm tra công thức máu. Không nên dùng thuốc lại cho bệnh nhân cho đến khi số lượng bạch cầu trung tính trở lại mức ≥ 1.500/mm3 (≥ 1.000/ mm3 đối với bệnh nhân KS) và số lượng tiểu cầu trở lại mức ≥ 100.000/mm3 (≥ 75.000/ mm3 đối với bệnh nhân KS). Trong nghiên cứu lâm sàng bệnh KS, phần lớn bệnh nhân đã nhận yếu tố kích thích kết tập bạch cầu hạt (G-CSF). Những bệnh nhân giảm bạch cầu trung tính nặng (< 500 tế bào/ mm3 trên 1 tuần) trong khi điều trị paclitaxel hoặc nhiễm khuẩn huyết mất bạch cầu hạt cần giảm liều paclitaxel tiếp theo.
Viêm miệng: Viêm miệng từ nhẹ đến nặng thì không phổ biến với liều khuyến cáo và phác đồ paclitaxel. Tuy nhiên, nếu tiếp tục điều trị cần giảm liều paclitaxel cho những liều tiếp theo. Đối với bệnh nhân KS, viêm miệng nặng hiếm khi xảy ra. Nếu có phản ứng nghiêm trọng, cần giảm liều paclitaxel 20%.
Các bất thường trong dẫn truyền tim và chứng loạn nhịp: Hiếm khi được báo cáo khi dùng paclitaxel đơn liệu pháp. Có nhận thấy sự thay đổi nhẹ điện tâm đồ khi dùng paclitaxel. Bệnh nhân loạn nhịp tim hoặc bất thường trong dẫn truyền tim nặng cần được theo dõi và áp dụng liệu pháp điều trị thích hợp và tiếp tục theo dõi tim trong thời gian điều trị paclitaxel ở những chu kỳ tiếp theo. Hạ huyết áp, tăng huyết áp và chậm nhịp tim đã quan sát thấy khi điều trị bằng paclitaxel nhưng không có triệu chứng và không cần phải điều trị. Ngoài ra, trong những nghiên cứu trên các bệnh nhân ung thư vú di căn (MBC) và ung thư buồng trứng (MOC) thấy nhịp tim nhanh, tim đập nhanh và ngất xỉu khi điều trị bằng paclitaxel. Do đó cần thường xuyên theo dõi các dấu hiệu sinh tồn, đặc biệt trong giờ đầu tiêm truyền paclitaxel. Những biến cố nặng về tim thường thấy ở bệnh nhân bị ung thư phổi không phải tế bào nhỏ (NSCLC) hơn ung thư vú và buồng trứng.
Bệnh thần kinh ngoại vi: Mặc dù bệnh thần kinh ngoại vi thường xuất hiện nhưng hiếm thấy các triệu chứng nặng. Trong trường hợp trầm trọng, nên giảm 20% liều (25% đối với bệnh nhân KS). Đối với bệnh nhân bị NSCLC và ung thư buồng trứng đã sử dụng liệu pháp đầu tiên, việc dùng paclitaxel phối hợp với cisplatin nguy cơ nhiễm độc thần kinh cao hơn khi dùng phối hợp paclitaxel và cyclophosphamid, tiếp theo là cisplatin.
Suy gan: Bệnh nhân bị suy gan có thể tăng nguy cơ suy tủy (đặc biệt suy tủy độ 3 – 4) khi điều trị bằng paclitaxel. Ở bệnh nhân suy gan nặng và trung bình, việc tiêm truyền paclitaxel hơn 3 giờ có thể gia tăng nguy cơ suy tủy. Chưa có dữ liệu đề nghị thay đổi liều ở bệnh nhân suy gan nhẹ đến trung bình. Không nên dùng paclitaxel điều trị cho bệnh nhân bị suy gan nặng. Chưa có dữ liệu ở bệnh nhân bị ứ mật nặng.
Hệ tiêu hóa: Viêm ruột kết màng giả hiếm khi xảy ra kể cả trường hợp bệnh nhân chưa được điều trị đồng thời với kháng sinh. Phản ứng này nên được xem xét trong chẩn đoán phân biệt các trường hợp tiêu chảy nặng hay dai dẳng xảy ra trong hay ngay sau khi điều trị với paclitaxel.
Khác: Thành phần có ethanol tuyệt đối, cần cân nhắc đối với tác dụng trên hệ thần kinh trung ương (CNS) và các tác dụng khác. Tránh tiêm paclitaxel vào động mạch vì phản ứng nặng ở mô khi nghiên cứu trên thú vật. Paclitaxel khi phối hợp với xạ trị phổi, có thể làm phát triển bệnh viêm phổi mô kẽ. Nhiều thí nghiệm cho thấy paclitaxel có thể gây quái thai, độc với phổi và gây đột biến, do đó sau 6 tháng điều trị bằng paclitaxel mới mang thai. Ở bệnh nhân KS, hiếm khi bị viêm niêm mạc nặng, nếu phản ứng xảy ra trầm trọng nên giảm liều paclitaxel 25%.
Chưa rõ ảnh hưởng của thuốc.
Tuân theo chỉ định từ bác sĩ. Chỉ nên dùng thuốc khi lợi ích vượt trội nguy cơ có thể xảy ra.
Tương tác thuốc có thể ảnh hưởng đến hoạt động của thuốc hoặc gây ra các tác dụng phụ.
Bệnh nhân nên báo cho bác sĩ hoặc dược sĩ danh sách những thuốc và các thực phẩm chức năng bạn đang sử dụng. Không nên dùng hay tăng giảm liều lượng của thuốc mà không có sự hướng dẫn của bác sĩ.
Vui lòng xem thêm các thông tin về thuốc trong tờ hướng dẫn sử dụng thuốc đính kèm sản phẩm.
Nơi khô, nhiệt độ không quá 30oC, tránh ánh sáng.
Sau khi pha loãng trong dung dịch phù hợp, sản phẩm ổn định trong 27 giờ ở nhiệt độ phòng.
Mọi thông tin trên đây chỉ mang tính chất tham khảo. Việc sử dụng thuốc phải tuân theo hướng dẫn của bác sĩ chuyên môn.
Tốt nghiệp loại giỏi trường Đại học Y Dược Huế. Từng tham gia nghiên cứu khoa học đề tài về Dược liệu. Nhiều năm kinh nghiệm làm việc trong lĩnh vực Dược phẩm. Hiện đang là giảng viên cho Dược sĩ tại Nhà thuốc Long Châu.
Dược lực học là nghiên cứu các ảnh hưởng sinh hóa, sinh lý, và phân tử của thuốc trên cơ thể và liên quan đến thụ thể liên kết, hiệu ứng sau thụ thể, và tương tác hóa học. Dược lực học, với dược động học, giúp giải thích mối quan hệ giữa liều và đáp ứng, tức là các tác dụng của thuốc. Đáp ứng dược lý phụ thuộc vào sự liên kết của thuốc với đích tác dụng. Nồng độ thuốc ở vị trí thụ thể ảnh hưởng đến tác dụng của thuốc.
Dược động học là những tác động của cơ thể đối với thuốc trong suốt quá trình thuốc đi vào, ở trong và đi ra khỏi cơ thể- bao gồm các quá trình hấp thụ, sinh khả dụng, phân bố, chuyển hóa, và thải trừ.
Tác dụng phụ là những triệu chứng không mong muốn xảy ra khi chúng ta uống thuốc. Các tác dụng phụ này có thể không nghiêm trọng, chẳng hạn chỉ gây đau đầu hoặc khô miệng. Nhưng cũng có những tác dụng phụ đe dọa tính mạng. Cẩn phòng tránh tác dụng phụ của thuốc như: Thông báo các loại thuốc đang sử dụng với bác sĩ, các bệnh lý nền hiện tại, các tương tác của thuốc đến thực phẩm hằng ngày. Đọc kỹ hướng dẫn sử dụng thuốc và nếu gặp tác dụng phụ cần báo ngay cho bác sĩ.
Sử dụng thuốc đúng cách là uống thuốc theo chỉ dẫn của dược sĩ, bác sĩ. Ngoài ra không dùng nước quả, nước khoáng hoặc các loại nước ngọt đóng hộp có gas để uống thuốc. Không dùng sữa để uống thuốc vì trong thành phần của sữa có chứa canxi. Không dùng cà phê hay nước chè để uống thuốc. Chỉ nên uống cùng nước lọc.
Có các dạng bào chế thuốc như
Theo thể chất:
Theo đường dùng:

Hãy sử dụng sản phẩm và trở thành người đầu tiên đánh giá trải nghiệm nha.
Hỏi đáp (0 bình luận)