Thuốc TAFNEXT có thành phần chính là Tenofovir alafenamide, đây là thuốc được sử dụng để điều trị viêm gan B mãn tính ở người lớn và thanh thiếu niên (từ 12 tuổi trở lên với trọng lượng cơ thể ít nhất 35 kg), điều trị viêm gan siêu vi B mãn tính ở bệnh nhân xơ gan còn bù.
Số đăng ký
Quy cách
Thành phần
Xem tất cả thông tin
Lưu ý: Sản phẩm này chỉ bán khi có chỉ định của bác sĩ, mọi thông tin trên Website chỉ mang tính chất tham khảo.
Thuốc Tafnext 25mg là gì?
Kích thước chữ
Mặc định
Lớn hơn
Thuốc TAFNEXT được chỉ định dùng trong các trường hợp sau:
Các nhóm dược lý: Thuốc kháng virus Antivirals - Nhóm chất ức chế men sao chép ngược nucleoside và nucleotide
Mã ATC : J05AF13
Cơ chế hoạt động:
Tenofovir alafenamide là một tiền chất phosphonamidate cua tenofovir (2'-deoxyadenosine monophosphate analogue). Tenofovir alafenamide xâm nhập vào tế bào gan nguyên phát bằng cách khuếch tán thụ động và bởi các protein vận chuyển hấp thu ở gan OATP1B1 và OATP1B3. Tenofovir alafenamide chủ yếu được thủy phân thành tenofovir bới carboxylesterase 1 trong tế bào gan nguyên phát.
Tenofovir nội bào sau đó được phosphoryl hóa thành chất chuyển hóa tenofovir diphosphate hoạt động dược lý. Tenofovir diphosphate ức chế sự nhân lên của HBV thông qua việc kết hợp vào DNA của virus bằng enzyme sao chép ngược của HBV, dẫn đến chấm dứt chuỗi DNA.
Tenofovir có hoạt tính cụ thể với virus viêm gan B và virus gây suy giảm miễn dịch ở người (HIV-1 và HIV-2). Tenofovir diphosphale là một chất ức chế yếu của enzyme DNA polymerase ở động vật có vú bao gồm DNA polymerase γ ti thể và không có bằng chứng độc tố ti thể trong các thử nghiệm in vitro bao gồm phân tích DNA ti thể.
Hoạt tính kháng virus
Hoạt tính kháng virus của tenofovir alafenamide được đánh giá trong tế bào HepG2 đối với một bảng phân lập HBV lầm sàng đại diện cho các kiểu gen A-H. Nồng độ EC50 (50% nồng độ có hiệu quá) đối với Tenofovir alafenamide dao động từ 34,7 đến 134,4 nM, với EC50 trung bình là 86,6 nM. CC50 ( 50% nồng độ độc) trong tế bào HepG2 là > 44400 nM
Kháng thuốc
Trong một phân tích tổng hợp các bệnh nhân sử dụng thuốc, phân tích trình tự đã được thực hiện trên những chủng HBV phân lập ban đầu kép và đang điều trị đổi với bệnh nhân trải qua siêu vi bùng phát (2 lần tiếp xúc liên tục với HBU DNA ≥ 60 IU/mL sau khi lượng HBV DNA < 69 IU/mL, hoặc lượng HBV DNA 1,0 log10 hoặc cao hơn từ trị số nadir) đến tuần 48, hoặc có HBV DNA> 69 IU/mL lúc ngưng sớm hoặc sau tuần 24. Không có sự thay thế amino acid liên quan đến để kháng với tenofovir alafenamide đã được xác định trong 20 cặp phân lập.
Kháng chéo
Hoạt tính kháng virus của tenofovir alafenamide được đánh giá trên một bảng phân lập có chauws các đột biển ức chế men sao chép ngược nucleostide trong tế bào HepG2. Các chủng HBV phân lập biểu hiện các đôa nthay thế rtV173L, rtL180M và rtM204V/ I liên quan đến khản năng để kháng với lamivudine nhạy cảm với tenofovir alafenamide (<2 lần thay đổi EC50). Các chủng HBV phân lập biểu hiện các đoạn thay thế rtL 180M, rtM204V cộng với rtT184G, rtS202G, hoặc các đoạn thay thế rtM250V liên quan đến khả năng đề kháng với entecavir nhạy cảm với tenofovir alafenamide. Các chúng HBV phân lập thể hiện đoạn thay thế duy nhất rtA181T, rA181V, hoặc rtN236T liên quan đến khả năng để kháng với adefovir nhạy cảm với tenofovir alafenamide; tuy nhiên, chủng HBV phân lập biểu hiện rtA181V với rtN236T cho thấy giảm tính nhạy cảm với tenofovir alafenamide(3,7 lần thay đổi EC50). Sự liên quan lâm sàng của những đoạn thay thế này không được biết đến.
Vui lòng xem thêm các thông tin về CÁC NGHIÊN CỨU LÂM SÀNG trong tờ hướng dẫn sử dụng thuốc đính kèm sản phẩm.
Hấp thu: Sau khi uống tenofovir alafenamide trong nghiên cứu điều kiện đói ở người lớn bị viêm gan siêu vi B, nồng độ đỉnh trong huyết tương của tenofovir alafenamide đã được quan sát thẩy khoảng 0,48 giờ sau khi dùng liều. Căn cứ vào phân tích dược động học ở những bệnh nhân giai đoạn 3 có CHB, AUC, trung bình ở trạng thái ổn định của tenofovir alafenamide (N=698) là 0,22 µg.giờ/mL và tenofovir (N=856) là 0,32 µg.giờ/mL. Liên quan đến nghiên cứu trong điều kiện đói, hấp thu liều đơn tenofovir alafenamide với bữa ăn giàu chất béo dẫn đến kết quả tăng 65% tiếp xúc với tenofovir alafenamide.
Phân bố: Độ bám của tenofovir alafenamide với các protein huyết tương ở người trong các mẫu thu thập được trong các thử nghiệm lâm sàng là khoảng 80%. Độ bám tenofovir với các protein huyết tương ở người dưới 0,7% và độc lập với nồng độ trong khoảng 0,01-25 µg/mL.
Chuyển hóa: Chuyển hóa là quá trình thải trừ chính của tenofovir alafenamide ở người, dựa trên >80% liều uống. Các nghiên cứa in vitro đã cho thấy rằng tenofovir afafenamide được chuyển hóa thành tenofovir (chất chuyển hóa chính) bởi enzyme carboxylesterase-1 ở tế bào gan nguyên phát; và bởi cathepsin A ở tế bào PBMC và các đại thực bào. Trong nghiên cứu in vitro, tenofovir alafenamide bị thủy phân trong tế bảo nhằm hình thành tenofovir (chất chuyển hóa chính), sau đó bị phosphoryl hóa thành chất chuyển hóa hoạt động tenofovir disphosphate.
Trong nghiên cứu in vitro, tenofovir alafenamide không bị chuyển hóa bởi các enzyme CYP1A2, CYP2C8, CYP2C9, CYP2C19 hoặc CYP2D6. Tenofovir alafenamide ít bị chuyển hóa bởi CYP3A4.
Thải trừ: Sự bài tiết qua thận dưới dạng không biến đổi tenofovir alafenamide là <1% liều được loại bỏ bằng nước tiểu. Tenofovir alafenamide và tenofovir có thời gian bán thải trung bình là 0,51 và 32,27 giờ. Tenofovir được thải trừ ra khỏi cơ thể qua thận bằng cả lọc cầu thận và bài tiết chù động ở ống thận.
Tính tuyến tính/phi tuyến tính
Tenofovir alafenamide tiếp xúc có tỷ lệ tương ứng trong khoảng liều từ 8 đến 125mg.
Dược động học đối với những quần thể đặc biệt
Tuổi tác, giới tính, dân tộc
Không có sự khác biệt lâm sàng về dược động học theo tuổi hoặc dân tộc đã được xác định. Sự khác biệt về dược động học theo giới tính không được coi là có liên quan đến lâm sàng.
Suy gan
Ở những bệnh nhân suy gan nặng, nông độ huyết tương tông của tenofovir alafenamide và tenofovir thấp hơn so với những người có chức năng gan bình thường. Khi được điều chỉnh protein gắn kết, nồng độ tenofovir alafenamide và tenofovir không gắn kết ở những bệnh nhân suy gan nặng và có chức năng gan bình thường là như nhau.
Suy thận
Không có sự khác biệt về lâm sàng về dược động học giữa tenofovir alafenamide và tenofovir được quan sát thấy giữa những người khỏe mạnh và bệnh nhân suy thận nặng (CrCI ước tính >15 mL/phút nhưng <30mL/phút) trong các nghiên cứu của tenofovir alafenamide.
Đối tượng trẻ em
Dược động học của tenofovir alafenamide và tenofovir đã được đánh giá ở thanh thiếu niên nhiễm HIV-1 chưa từng điều trị được cho uống tenofovir alafenamide (10mg) cùng với elvitegravir, cobicistat và emtricitabine liều kết hợp (E/C/F/TAF; Genvova), Không có khác biệt lâm sảng đối với dược động học của tenofovir alafenamide và tenofovir được quan sát giữa bệnh nhân thanh thiếu niên và người trưởng thành nhiễm HIV-1.
Đối tượng đặc biệt
Người cao tuổi
Không cần điều chỉnh liều tenofovir alafenamide cho người cao tuổi > 65 tuổi.
Người bị suy thận
Không cần điều chỉnh liều tenofovir alafenamide cho ở người lớn hoặc thanh thiếu niên (trên 12 tuổi và trọng lượng trên 35 kg) với độ thanh thải creatinin ước tính (CrCl) ≥ 15 mL/phút hoặc ở những bệnh nhận có CrC1 <15 mL/phút đang chạy thận nhân tạo.
Vào những ngày chạy thận nhân tạo, nên dùng tenofovir alafenamide sau khi kết thúc điều trị chạy thận nhân tạo.
Không thể dưa ra khuyến nghị về liều cho bệnh nhân có CrCl <15 mL/phút không được chạy thận nhân tạo.
Người bị suy gan
Không cần điều chinh liều tenofovir alafenamide ở bệnh nhân suy gan.
Trẻ em
Tính an toàn và hiệu quả của tenofovir alafenamide ở trẻ em dưới 12 tuổi, hoặc nặng <35 kg, chưa được thành lập.
Thuốc dùng đường uống.
Việc ngưng thuốc có thể được xem xét như sau:
Ở những bệnh nhân dương tính với HBeAg không bị xơ gan, nên điều trị ít nhất 6-12 tháng sau khi chuyển đổi huyết thanh HBe (mất HBeAg và mất DNA HBV khi phát hiện kháng HBe) hoặc cho đến khi chuyển đổi huyết thanh HBs hoặc cho đến khi thấy thuốc mất hiệu lực. Đánh giá lại thường xuyên được khuyến cáo sau khi ngừng điều trị để phát hiện tái phát virus.
Ở những bệnh nhân âm tính với HBeAg không bị xơ gan, nên điều trị ít nhất cho đến khi chuyển đổi huyết thanh HBs hoặc cho đến khi có bằng chứng mất hiệu quả. Với việc điều trị kéo dài hơn 2 năm, nên đánh giá lại thường xuyên để xác nhận rằng việc tiếp tục điều trị được lựa chọn vẫn phù hợp với bệnh nhân.
Liều thông thường là một viên nén bao phim tenofovir alafenamid 25mg uống một lần/ngày với thức ăn.
Người lớn tuổi: Không cần điều chỉnh liều ở bệnh nhân từ 65 tuổi trở lên
Bệnh nhân suy thận: Không cần điều chỉnh liều Tenofovir alafenamide tablets 25mg ở người lớn hoặc thanh thiếu niên (từ 12 tuổi trở lên với trọng lượng cơ thế ít nhất 35 kg) với CrCl ≥ 15 mL/phút hoặc ở bệnh nhân có CrCl <15 mL/phút tiếp nhận chạy thận nhân tạo. Vào những ngày chạy thận nhân tạo, Tenofovir alafenamide tablets 25mg nên được dùng sau khi hoàn thành điều trị chạy thận nhân tạo.
Không thể đưa ra khuyến nghị về liều cho bệnh nhân có CrCl <15 mL/phút không được chạy thận nhân tạo.
Bệnh nhân suy gan:
Không cần điều chỉnh liều ở bệnh nhân suy gan nhẹ (chỉ số Child - Pugh A).
Không sử dụng tenofovir alafenamide tablets 25mg ở bệnh nhân xơ gan mất bù (chi số child-Pugh B hoặc C).
Trẻ em: Tính an toàn và hiệu quả của tenofovir alafenamide ở trẻ em dưới 12 tuổi, hoặc nặng <35 kg, chưa được thành lập.
Lưu ý: Liều dùng trên chỉ mang tính chất tham khảo. Liều dùng cụ thể tùy thuộc vào thể trạng và mức độ diễn tiến của bệnh. Để có liều dùng phù hợp, bạn cần tham khảo ý kiến bác sĩ hoặc chuyên viên y tế.
Triệu chứng:
Nếu dùng quá liều, quan sát bệnh nhân tìm dấu hiệu độc tố.
Xử trí:
Điều trị dùng quá liều tenofovir alafenamide bằng cách điều trị hỗ trợ theo triệu chứng, quan sát dấu hiệu sống còn và tình trạng lâm sàng. Tenofovir có thể được loại bò bằng thẩm tách máu với hệ số phân tách là 54%. Chưa rõ tenofovir có được loại trừ qua thầm phân màng bụng hay không.
Trong trường hợp khẩn cấp, hãy gọi ngay cho Trung tâm cấp cứu 115 hoặc đến trạm Y tế địa phương gần nhất.
Nếu lỡ quên uống thuốc, bệnh nhân cần kiểm tra lại khoảng thời gian quên thuốc và xử trí phù hợp: Nếu chưa đến 18 giờ kể từ thời điểm uống thuốc thường ngày, uống một liều càng sớm càng tốt và uống liều tiếp theo theo lịch dùng thuốc hàng ngày. Nếu thời gian đã hơn 18 giờ kể từ thời điểm cần dùng thuốc, đợi uống liều tiếp theo vào thời điểm dùng thuốc hàng ngày và không dùng liều gấp đôi để bù cho liều đã bị bỏ lỡ.
Trường hợp người bệnh nôn ói trong vòng 1 giờ sau khi uống thuốc, cần phải dùng thêm 1 liều thuốc để bù lại thuốc đã mất. Nếu nôn ói sau 1 giờ, người bệnh không cần dùng lại thuốc
Khi sử dụng thuốc TAFNEXT bạn có thể gặp các tác dụng không mong muốn (ADR):
Các phản ứng phụ thường gặp nhất là đau đầu, buồn nôn, và mệt mỏi.
Các phản ứng phụ của thuốc sau đây đã được nhận diện với tenofovir alafenamide ở bệnh nhân viêm gan B mãn tính.
Các phản ứng phụ được liệt kê dưới đây theo tần suất và hệ cơ quan.
Các tần suất được xác định như sau: Rất thường gặp (≥ 1/10), thường gặp (≥ 1/100 đển <1/10), ít gặp (2 1/1.000 đến <1/100), hiếm gặp (1/10.000 đến <1/1.000) hoặc rất hiểm gặp (<1/10.000).
| Tần suất / Hệ cơ quan | Phản ứng bất lợi |
|---|---|
| Rối loạn tiêu hóa | |
| Thường gặp | Tiêu chảy, nôn mửa, buồn nôn, đau bụng, chướng bụng, đầy hơi |
| Rối loạn toàn thân và tại chỗ dùng thuốc | |
| Thường gặp | Mệt mỏi |
| Rối loạn hệ thần kinh | |
| Rất thường gặp | Nhức đầu |
| Thường gặp | Chóng mặt |
| Rối loạn da và các tổ chức dưới da | |
| Thường gặp | Ngứa, phát ban |
| Rối loạn gan mật | |
| Thường gặp | Tăng ALT máu |
| Rối loạn xương và mô liên kết | |
| Thường gặp | Đau xương |
Hướng dẫn cách xử trí ADR:
Thông báo cho thầy thuốc các tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.
Trước khi sử dụng thuốc bạn cần đọc kỹ hướng dẫn sử dụng và tham khảo thông tin bên dưới.
Thuốc TAFNEXT chống chỉ định trong các trường hợp sau:
Cần rất thận trọng khi dùng thuốc cho người bệnh trong các trường hợp sau:
Lây truyền HBV
Bệnh nhân phải được thông báo rằng tenofovir alafenamide không ngăn ngừa nguy cơ lây truyền HBV cho người khác thông qua quan hệ tình dục hoặc nhiễm máu. Biện pháp phòng ngừa thích hợp phái tiếp tục được sử dụng.
Bệnh nhân bị bệnh gan mất bù
Không có dữ liệu về sự an toàn và hiệu quả của tenofovir alafenamide tablets 25mg ở những bệnh nhân nhiễm HBV bị bệnh gan mất bù và người có điểm số Children Pugh Turcotte (CPT) > 9 (tức là lớp C). Những bệnh nhân này có thể có nguy cơ cao gặp phải các phản ứng bất lợi nghiêm trọng về gan hoặc thận. Do đó, cần theo dõi chặt chẽ các thông số về gan và thận cho những đối tượng đặc biệt này.
Tiến triển viêm gan
Bùng phát trong khi điều trị
Các đợt cấp tính tự phát ở bệnh nhân viêm gan B mạn tính khá phổ biến và thể hiện qua việc tăng thoáng qua ALT huyết thanh. Sau khi bắt đầu điều trị kháng virus, ALT huyết thanh có thể tãng ở một số bệnh nhân. Ở bệnh nhân mắc bệnh gan còn bù, tình trạng tăng ALT huyết thanh thường không kèm theo tăng nồng độ bilirubin huyết thanh hoặc dấu hiệu gan mất bù. Bệnh nhân xơ gan có thể có nguy cơ cao hơn đối với mất bù gan sau đợt cấp của viêm gan, và do đó nên được theo dõi chặt chẽ trong quá trình trị liệu.
Bùng phát sau khi ngưng điều trị
Đợt kịch phát cấp của viêm gan đã được báo cáo ở những bệnh nhân đã ngừng điều trị viêm gan B, thường liên quan đến việc tăng nồng độ DNA HBV trong huyết tương. Đa số các trường hợp tự giới hạn nhưng tình trạng nghiêm trọng, bao gồm cả kết cục gây tử vong, có thể xảy ra sau khi ngừng điều trị viêm gan B. Chức năng gan nên được theo dõi trong khoảng thời gian lặp lại với cả theo dõi lâm sàng và xét nghiệm trong ít nhất 6 tháng sau khi ngừng điều trị viêm gan B. Nếu thích hợp, việc điều trị trở lại bệnh viêm gan B có thể được bảo đảm.
Ở những bệnh nhân mắc bệnh gan tiến triển hoặc xơ gan, việc ngừng điều trị không được khuyến cáo vì tình trạng viêm gan sau điều trị có thể dẫn đến mất bù gan. Bùng phát gan đặc biệt nghiêm trọng và đôi khi gây từ vong ở bệnh nhân mắc bệnh gan mất bù.
Suy thận
Bệnh nhân có độ thanh thải creatinin CrCl <30 ml / phút
Bệnh nhân có độ thanh thải 15 mL/phút ≤ CrCl < 30 mL/phút: Dùng tenofovir alafenamide ngày 1 lần và bệnh nhân có CrCl <15 mL/phút đang chạy thận nhân tạo dựa trên dữ liệu được động học rất hạn chế. Không có dữ liệu an toàn về việc sử dụng tenofovir alafenamide để điều trị bệnh nhân nhiễm HBV với CrCl <30 mL/phút.
Việc sử dụng tenofovir alafenamide không được khuyến cáo ở những bệnh nhân có CrCl <15 mL/phút không được chạy thận nhân tạo.
Nhiễm độc thận
Có thể loại trừ nguy cơ nhiễm độc thận do tiếp xúc lâu dài với tenofovir nồng độ thấp do sứ dụng tenofovir alafenamide.
Bệnh nhân đồng nhiễm Viên gan B (HBV) và virus viêm gan C hoặc D
Không có dữ liệu về sự an toàn và hiệu quả của tenofovir alafenamide ở những bệnh nhân đồng nhiễm với virus viêm gan C hoặc D.
Hướng dẫn phối hợp điều trị viêm gan C nên được theo dõi.
Đồng nhiễm Viên gan B (HBV) và HIV
Xét nghiệm kháng thể HIV nên được yêu cầu cho tất cả các bệnh nhân nhiễm HBV bị nhiễm HIV-1 tình trạng không rõ trước khi bắt đầu điều trị bằng tenofovir alafenamide. Ở những bệnh nhân bị đồng nhiễm với HBV và HIV, Tenofovir alafenamide nên được dùng chung với thuốc kháng virus khác để đảm bảo rằng bệnh nhân nhận được một chế độ thích hợp để điều trị HIV.
Phối hợp với các thuốc khác
Không nên dùng đồng thời Tenofovir alafenamide với các sản phẩm cô chứa Tenofovir alafenamide, tenofovir disoproxil fumarate hoặc adefovir dipivoxil.
Phối hợp tenofovir alafenamide với một số thuốc chống co giật (ví dụ: Carbamazepine, oxcarbazepine, phenobarbital và phenytoin), thuốc chống mycobacterium (ví dụ: Rifampicin, rifabutin và rifapentine) hoặc St John's wort, tất cả đều là chất gây cảm ứng P-glycoprotein (P-gp) và có thể giảm nồng độ Tenofovir alafenamide trong huyết tương, không được khuyến cáo.
Phối hợp tenofovir alafenamide với các chất ức chế mạnh P-gp (vi dụ: Itraconazole và ketoconazole) có thể làm tăng nồng độ trong huyết tương của Tenofovir alafenamide. Không nên dùng đồng thời.
Thuốc chứa lactose, bệnh nhân bị rối loạn do di truyền không dung nạp galactose như galactose máu, kém hấp thu glucose-galactose không nên dùng thuốc này.
Tenofovir Alafenamide không có hoặc có ảnh hưởng không đáng kế đến khả năng lái xe và sử dụng máy móc. Bệnh nhân cần được thông báo rằng chóng mặt đã được ghi nhận trong quá trình điều trị với tenofovir alafenamide.
Sử dụng thuốc cho phụ nữ có thai:
Không có hoặc số lượng dữ liệu giới hạn (dưới 300 kết quả nghiên cứu ở phụ nữ mang thai) từ việc sử dụng tenofovir alafenamide.
Tuy nhiên, một lượng lớn dữ liệu về phụ nữ mang thai (hơn 1000 kết quả tiếp xúc) cho thấy không có độc tính dị tật cũng như feto/neonatal liên quan đến việc sử dụng tenofovir disoproxil fumarate.
Các nghiên cứu trên động vật không chỉ ra tác động có hại trực tiếp hay gián tiếp liên quan đến sinh sản độc tính.
Việc sử dụng tenofovir alafenamide có thể được xem xét trong thai kỳ, nếu cần thiết.
Phụ nữ cho con bú:
Người ta không biết liệu tenofovir alafenamide có được tiết ra trong sữa mẹ hay không Tuy nhiên, các nghiên cứu ở động vật đã chỉ ra rằng tenofovir được tiết vào sữa. Không đủ thông tin về tác dụng của tenofovir ở trẻ sơ sinh. Không thể loại trừ nguy cơ cho trẻ bú sữa mẹ; do đó, tenofovir alafenamide không nên được sử dụng trong thời gian cho con bú.
Khả năng sinh sản:
Không có dữ liệu của con người về tác dụng của tenofovir alafenamide đối với khả năng sinh sản. Nghiên cứu ở động vật không chỉ ra tác dụng có hại của tenofovir alafenamide đối với khả năng sinh sản.
Tương tác với các thuốc khác
Nghiên cứu tương tác chỉ được thực hiện ở người lớn. Tenofovir Alafenamide không nên dùng chung với các thuốc có chứa tenofovir disoproxil fumarate, Tenofovir alafenamide hoặc adefovir dipivoxil.
Các thuốc có thể ảnh hướng đến Tenofovir alafenamide
Tenofovir alafenamide là một cơ chất của P-glycoprotein (P-gp) và BCRP. Các thuốc có ảnh hưởng lớn đến P-gp (vi dụ: Rifampicin, rifabutin, carbamazepine, phenobarbital hoặc St. John's wort ) có thể làm thay đổi khả năng hấp thụ tenofovir alafenamide và làm giảm nồng độ huyết tương của tenofovir alafenamide và có thể làm mất điều trị của thuốc Tenofovir Alafenamide. Không nên dùng đồng thời.
Phối hợp với Tenofovir Alafenamide với các thuốc ức chế P-gp và BCRP có thể làm tăng nồng độ trong huyết tương của Tenofovir alafenamide. Không nên dùng đồng thời, thuốc ức chế mạnh P-gp với Tenofovir alafenamide.
Tenofovir alafenamide là chất nền của OATP1B1 và OATP1B3 in vitro. Sự phân bố của tenofovir alafenamide trong cơ thể có thể bị ảnh hưởng bởi hoạt động của OATP1BI và/hoặc OATP1B3.
Tác dụng của Tenofovir alafenamide trên các thuốc khác
Tenofovir alafenamide không phải là chất ức chế CYP1A2, CYP2B6, CYP2C8, CYP2C9, CYP2C19 hoặc CYP2D6 in vitro. Nó không phải là chất ức chế hay cảm ứng CYP3A in vivo.
Tenofovir alafenamide không phải là chất ức chế uridine diphosphate glucuronosyltransferase (UGT) 1A1 in vitro. Người ta không biết liệu tenofovir alafenamide có phải là chất ức chế các enzyme UGT khác hay không.
Vui lòng xem thêm các thông tin về "Khả năng tương tác thuốc của tenofovir alafenamide với thuốc khác khi sử dụng đồng thời" trong tờ hướng dẫn sử dụng thuốc đính kèm sản phẩm.
Để nơi mát, tránh ánh sáng, nhiệt độ dưới 30⁰C.
Để xa tầm tay trẻ em, đọc kỹ hướng dẫn sử dụng trước khi dùng.
Mọi thông tin trên đây chỉ mang tính chất tham khảo. Việc sử dụng thuốc phải tuân theo hướng dẫn của bác sĩ chuyên môn.
Dược sĩ chuyên khoa Dược lý - Dược lâm sàng. Tốt nghiệp 2 trường đại học Mở và Y Dược TP. Hồ Chí Minh. Có kinh nghiệm nghiên cứu về lĩnh vực sức khỏe, đạt được nhiều giải thưởng khoa học. Hiện là Dược sĩ chuyên môn phụ trách xây dựng nội dung và triển khai dự án đào tạo - Hội đồng chuyên môn tại Nhà thuốc Long Châu.
Thuốc TAFNEXT không có hoặc có ảnh hưởng không đáng kể đến khả năng lái xe và sử dụng máy móc; tuy nhiên, bệnh nhân cần được thông báo rằng triệu chứng chóng mặt đã được ghi nhận trong quá trình điều trị với thuốc này.
Nếu chưa đến 18 giờ kể từ thời điểm uống thuốc thường ngày, bệnh nhân nên uống một liều TAFNEXT càng sớm càng tốt và uống liều tiếp theo theo lịch hằng ngày. Nếu đã hơn 18 giờ, người bệnh nên đợi uống liều TAFNEXT tiếp theo vào thời điểm hằng ngày và không dùng liều gấp đôi để bù cho liều đã bỏ lỡ.
Không cần điều chỉnh liều thuốc TAFNEXT ở bệnh nhân suy gan nhẹ (chỉ số Child - Pugh A). Tuy nhiên, không sử dụng thuốc TAFNEXT ở bệnh nhân xơ gan mất bù có chỉ số Child-Pugh B hoặc C.
Không cần điều chỉnh liều TAFNEXT ở người lớn hoặc thanh thiếu niên (từ 12 tuổi trở lên với trọng lượng cơ thể ít nhất 35 kg) với độ thanh thải creatinin (CrCl) ≥ 15 mL/phút hoặc ở bệnh nhân có CrCl <15 mL/phút đang tiếp nhận chạy thận nhân tạo. Vào những ngày chạy thận nhân tạo, nên dùng TAFNEXT sau khi hoàn thành điều trị chạy thận nhân tạo.
Thuốc TAFNEXT được chỉ định dùng trong điều trị viêm gan B mãn tính ở người lớn và thanh thiếu niên (từ 12 tuổi trở lên với trọng lượng cơ thể ít nhất 35 kg) và điều trị viêm gan siêu vi B mãn tính ở bệnh nhân xơ gan còn bù.

Hãy sử dụng sản phẩm và trở thành người đầu tiên đánh giá trải nghiệm nha.
:format(webp)/tafnext_25mg_hetero_30v_00051021_1_2dfb4e4847.jpg)
Hỏi đáp (0 bình luận)