Thuốc Xelostad là thuốc chỉ định dự phòng đột quỵ và thuyên tắc mạch toàn thân ở các bệnh nhân trưởng thành bị rung nhĩ không do bệnh lý van tim có một yếu tố nguy cơ hoặc nhiều hơn như: Suy tim, tăng huyết áp, ≥ 75 tuổi, đái tháo đường, tiền sử đột quỵ hoặc cơn thiếu máu hoại tử cục bộ thoáng qua. Điều trị huyết khối tĩnh mạch sâu (DVT) và thuyên tắc phổi (PE), và phòng ngừa tái phát DVT và PE ở người lớn.
Số đăng ký
Quy cách
Thành phần
Xem tất cả thông tin
Lưu ý: Sản phẩm này chỉ bán khi có chỉ định của bác sĩ, mọi thông tin trên Website chỉ mang tính chất tham khảo.
Thuốc Xelostad 2mg là gì?
Kích thước chữ
Mặc định
Lớn hơn
Thuốc Xelostad chỉ định điều trị trong các trường hợp sau:
Nhóm dược lý: Chất ức chế trực tiếp yếu tố Xa
Mã ATC: B01AF01
Cơ chế tác dụng:
Rivaroxaban là một chất ức chế chọn lọc cao và trực tiếp yếu tố Xa với sinh khả dụng qua đường uống. Sự ức chế yếu tố Xa làm gián đoạn con đường nội sinh và ngoại sinh của dòng thác đông máu, ức chế sự hình thành thrombin và phát triển huyết khối. Rivaroxaban không ức chế thrombin (yếu tố II) và không có tác dụng đối với tiểu cầu.
Tác dụng dược lực:
Sự ức chế hoạt tính của yếu tố Xa phụ thuộc liều đã được quan sát thấy trên người. Thời gian prothrombin (PT) bị ảnh hưởng lệ thuộc theo liều rivaroxaban sử dụng có tương quan chặt chẽ với các nồng độ thuốc trong huyết tương (giá trị r bằng 0,98) nếu dùng Neoplastin để thử. Các thuốc thử khác có thể cho kết quả khác nhau. Kết quả cho PT được tính theo giây, vì chỉ số INR chỉ được định chuẩn và có giá trị đối với coumarin và không thể sử dụng cho bất cứ thuốc chống đông khác, ở những bệnh nhân trải qua đại phẫu chỉnh hình, bách phân vị 5/95 của PT (Neoplastin) 2-4 giờ sau khi uống thuốc (tức là ở thời điểm thuốc đạt tác dụng tối đa) trong giới hạn từ 13 - 25 giây (giá trị trước phẫu thuật là 12 -15 giây).
Thời gian hoạt hóa một phần thromboplastin (aPTT) và HepTest cũng bị kéo dài phụ thuộc vào liều dùng; tuy nhiên không khuyến cáo sử dụng các chỉ số này để đánh giá tác dụng dược lực của rivaroxaban
Trong lâm sàng, không cần thiết phải theo dõi các thông số đông máu trong quá trình điều trị với rivaroxaban. Tuy nhiên, khi có chỉ định trên lâm sàng có thể đo nồng độ rivaroxaban bằng thử nghiệm đo nồng độ kháng yếu tố Xa.
Hấp thu
Rivaroxaban được hấp thu nhanh với nồng độ tối đa (Cmax) khoảng 2 - 4 giờ sau khi uống thuốc.
Sự hấp thu theo đường uống của rivaroxaban gần như hoàn toàn và sinh khả dụng đường uống cao (80 - 90%) đối với liều thuốc viên 2,5 mg và 10 mg, bất kể điều kiện đói hay no.
Dùng đồng thời với thức ăn không làm ảnh hưởng tới AUC hay Cmax của rivaroxaban ở liều 2,5 mg và 10 mg. Rivaroxaban có thể dùng cùng hoặc không cùng với thức ăn. Dược động học của rivaroxaban có khoảng tuyến tính lên đến 15 mg x 1 lần/ngày. Khi dùng liều cao hơn, khả năng hấp thu không tăng, sinh khả dụng và tỷ lệ hấp thu giảm khi dùng liều tăng lên. Điều này thể hiện rõ hơn ở trạng thái đói so với trạng thái no. Tính biến thiên dược động học của rivaroxaban ở mức vừa phải với tính biến thiên giữa các cá thể (CV%) giới hạn từ 30 - 40%, ngoài ngày phẫu thuật, và ngày tiếp theo khi sự thay đổi về mức tiếp xúc cao (70%).
Hấp thu rivaroxaban phụ thuộc vào vị trí phóng thích của thuốc trong đường tiêu hóa. Đã có báo cáo giảm 29% AUC và 56% Cmax được so sánh đối với thuốc viên khi rivaroxaban nghiền nhỏ được phóng thích trong đoạn gần ruột non. Mức tiếp xúc giảm thêm nếu thuốc được phóng thích ở đoạn xa ruột non hoặc trong đại tràng lên. Do đó, tránh dùng rivaroxaban xa dạ dày vì điều này có thể làm giảm hấp thu và phơi nhiễm thuốc.
Sinh khả dụng (AUC và Cmax) tương tự đối với viên rivaroxaban 20mg nghiền ra và trộn với nước sốt táo hoặc dịch treo trong nước và dùng qua ống thông dạ dày tiếp theo sau đó là bữa ăn lỏng so với uống toàn bộ viên thuốc. Do đặc tính dược động học tỉ lệ với liều có thể dự đoán được của rivaroxaban, nên các kết quả sinh khả dụng từ nghiên cứu này có thể áp dụng cho liều rivaroxaban thấp hơn.
Phân bố
Thuốc gắn kết cao với protein huyết tương ở người, khoảng 92 - 95%, chủ yếu với thành phần albumin. Thể tích phân bố ở mức vừa phải với giá trị Vss khoảng 50 L.
Chuyển hóa và thải trừ
Khoảng 2/3 liều rivaroxaban uống vào bị thoái biến theo chuyển hóa, sau đó một nửa sẽ được thải trừ qua thận và phần còn lại qua phân. 1/3 liều dùng còn lại được thải trừ trực tiếp qua thận dưới dạng hoạt chất không đổi trong nước tiểu, chủ yếu qua bài tiết chủ động ở thận.
Rivaroxaban được chuyển hóa nhờ CYP3A4, CYP2J2 và cơ chế độc lập với CYP. Sự thoái biến do oxyd hóa nhóm morpholine và thủy phân các liên kết amide là các vị trí sinh chuyển hóa chính. Dựa trên các nghiên cứu in vitro, rivaroxaban là cơ chất của protein vận chuyển P-gp (P-glycoprotein) và Bcrp (protein kháng ung thư vú).
Rivaroxaban dạng không chuyển hóa là hợp chất quan trọng nhất trong huyết tương người với sự có mặt của các chất chuyển hóa không quan trọng hoặc có hoạt tính trong tuần hoàn. Với độ thanh thải toàn phần khoảng 10L/giờ, có thể xếp rivaroxaban vào nhóm thuốc thanh thải chậm. Sự thải trừ của rivaroxaban khỏi huyết tương xảy ra với thời gian bán thải từ 5 - 9 giờ ở người trẻ tuổi và từ 11 -13 giờ ở người cao tuổi.
Dân số đặc biệt
Giới tính
Không có khác biệt về dược động học và dược lực học trên lâm sàng giữa bệnh nhân nam và nữ.
Người cao tuổi
Nồng độ thuốc trong huyết tương bệnh nhân cao tuổi cao hơn so với bệnh nhân trẻ tuổi với các giá trị AUC trung bình cao hơn khoảng 1,5 lần, chủ yếu do giảm (rõ ràng) độ thanh thải toàn phần và độ thanh thải qua thận.
Cân nặng
Bệnh nhân có trọng lượng cơ thể khác nhau (<50kg hoặc >120kg) chỉ có ảnh hưởng rất ít đến nồng độ rivaroxaban trong huyết tương (<25%). Không cần điều chỉnh liều.
Sự khác biệt về dân tộc
Không có sự khác biệt về lâm sàng giữa các bệnh nhân da trắng, Mỹ gốc phi, Mỹ gốc Tây Ban Nha, Nhật Bản hay Trung Quốc đã được đánh giá trên dược động học và dược lực học của rivaroxaban.
Suy gan
Bệnh nhân xơ gan bị suy gan nhẹ (phân loại Child Pugh A) chỉ bị thay đổi rất ít về dược động học của rivaroxaban so với nhóm chứng khỏe mạnh (AUC trung bình của rivaroxaban tăng gấp 1,2 lần), ở bệnh nhân xơ gan bị suy gan vừa (phân loại Child Pugh B), AUC trung bình tăng lên đáng kể, gấp 2,3 lần so với người tình nguyện khỏe mạnh. AUC của phần thuốc tự do tăng lên 2,6 lần. Sự thải trừ rivaroxaban qua thận cũng giảm, giống như trên bệnh nhân suy thận trung bình. Không có dữ liệu trên bệnh nhân suy gan nặng.
Ở bệnh nhân bị suy gan vừa, sự ức chế hoạt tính của yếu tố Xa tăng lên với hệ số 2,6 khi so sánh với người tình nguyện khỏe mạnh, sự kéo dài thời gian PT cũng tăng lên tương tự với hệ số 2,1. Bệnh nhân suy gan vừa nhạy cảm hơn với rivaroxaban, dẫn tới đồ thị biểu diễn mối quan hệ dược động học/ dược lực học giữa nồng độ thuốc và PT dốc đứng hơn. Xelostad 10 chống chỉ định ở bệnh nhân có bệnh gan đi kèm với bệnh đông máu dẫn tới nguy cơ chảy máu liên quan đến lâm sàng, bao gồm bệnh nhân xơ gan có phân loại Child Pugh B và C.
Suy thận
Sự tăng nồng độ rivaroxaban tương quan với sự suy giảm chức năng thận, được đánh giá thông qua độ thanh thải creatinine, ở bệnh nhân suy thận nhẹ (độ thanh thải creatinine 50 - 80ml/phút), suy thận vừa (độ thanh thải creatinine 30 - 49ml/phút), suy thận nặng (độ thanh thải creatinin 15 - 29ml/phút), AUC của rivaroxaban tăng lên tương ứng 1,4; 1,5 và 1,6 lần.
Sự tăng tác dụng dược động học tương ứng rõ ràng hơn. Ở những bệnh nhân suy thận nhẹ, vừa và nặng, hoạt tính ức chế yếu tố Xa nói chung tăng lên với hệ số tương ứng là 1,5; 1,9 và 2,0 khi so sánh với người tình nguyện khỏe mạnh; kéo dài PT cũng tăng tương tự với hệ số tương ứng là 1,3; 2,2 và 2,4. Không có dữ liệu ở bệnh nhân có độ thanh thải creatinin <15ml/phút.
Do rivaroxaban gắn với protein huyết tương cao nên không thẩm tách được.
Không khuyến cáo sử dụng thuốc cho bệnh nhân có độ thanh thải creatinin <15ml/phút. Sử dụng thận trọng Xelostad 10 trên bệnh nhân suy thận nặng có độ thanh thải creatinin 15 - 29ml/phút.
Trẻ em
An toàn và hiệu quả của thuốc chưa được xác định cho trẻ em và thanh thiếu niên đến 18 tuổi.
Xelostad được dùng bằng đường uống, viên được uống cùng với thức ăn.
Đối với bệnh nhân không thể nuốt nguyên viên thuốc, thì có thể nghiền viên thuốc Xelostad và trộn với nước hay thức ăn mềm như nước táo ngay trước khi dùng và được dùng qua đường uống. Sau khi uống viên Xelostad được nghiền ra, thì nên tiếp ngay sau với thức ăn.
Viên Xelostad nghiền ra có thể được cho qua ống thông dạ dày sau khi chắc chắn việc đặt ống thông đúng. Viên thuốc nghiền ra phải được dùng với một lượng nước nhỏ qua ống thông dạ dày sau đó được đổ thêm nước. Sau khi uống viên Xelostad được nghiền ra, thì nên tiếp ngay sau với nuôi ăn qua đường ruột.
Dự phòng đột quỵ và thuyên tắc mạch toàn thân:
Điều trị huyết khối tĩnh mạch sâu (DVT) và thuyên tắc phổi (PE), và phòng ngừa tái phát DVT và PE ở người lớn:
Thời gian điều trị ngắn (ít nhất 3 tháng) cho bệnh nhân bị DVT/PE bị tác động bởi các yếu tố nguy cơ lớn nhất thời (như đại phẫu hoặc chấn thương gần đây). Thời gian điều trị dài hơn đối với bệnh nhân bị DVT/PE không bị tác động bởi các yếu tố nguy cơ lớn nhất thời hoặc bị DVT/PE không có yếu tố khởi phát hoặc tiền sử bị DVT/PE tái phát.
| Giai đoạn | Chế độ liều | Tổng liều hàng ngày | |
|---|---|---|---|
| Điều trị và phòng ngừa tái phát DVT và PE | Ngày 1 - 21 | 15 mg x 2 lần/ngày | 30 mg |
| Ngày 22 và những ngày sau đó | 20 mg x 1 lần/ngày | 20 mg | |
| Phòng ngừa tái phát DVT và PE | Sau khi hoàn thành điều trị DVT và PE ít nhất 6 tháng | 10 mg hoặc 20 mg x 1 lần/ngày | 10 mg hoặc 20 mg |
Nếu bệnh nhân quên uống 1 liều 15 mg rivaroxaban trong chế độ liều 2 lần/ngày (ngày 1 - 21), bệnh nhân nên dùng rivaroxaban ngay để đảm bảo 30 mg/ngày. Trong trường hợp này, có thể uống 2 viên 15 mg cùng một lúc, và ngày hôm sau tiếp tục uống 15 mg đều đặn ngày 2 lần như thường lệ.
Nếu bệnh nhân quên 1 liều thuốc trong chế độ liều 1 lần/ngày, phải uống liều rivaroxaban ngay khi nhớ ra và ngày hôm sau phải tiếp tục uống thuốc 1 lần/ngày như khuyến cáo. Không nên dùng liều gấp đôi trong cùng 1 ngày để bù liều đã quên.
Chuyển đổi từ các chất đối kháng vitamin K (VKA) sang Xelostad:
Đối với bệnh nhân điều trị dự phòng đột quỵ và thuyên tắc mạch toàn thân, nên ngừng điều trị VKA và bắt đầu với Xelostad khi chỉ số INR ≤ 3.0.
Đối với bệnh nhân điều trị và phòng ngừa tái phát DVT, PE, nên ngừng điều trị VKA và bắt đầu với Xelostad khi chỉ số INR ≤ 2,5.
Khi bệnh nhân chuyển đổi từ VKA sang Xelostad, các giá trị INR sẽ tăng giả tạo sau khi uống Xelostad. INR này không có giá trị để đo hoạt tính chống đông của Xelostad, vì vậy không nên sử dụng giá trị này.
Chuyển đổi từ Xelostad sang các chất đối kháng vitamin K (VKA):
Trong quá trình chuyển đổi từ Xelostad sang VKA, có thể xảy ra tình trạng kháng đông không đầy đủ. Cần đảm bảo tình trạng kháng đông đầy đủ, liên tục trong quá trình chuyển đổi sang thuốc kháng đông thay thế. Cần lưu ý rằng Xelostad có thể góp phần vào việc làm cho giá trị INR tăng lên.
Đối với bệnh nhân chuyển đổi từ Xelostad sang VKA, nên dùng đồng thời VKA cho tới khi INR ≥ 2.0. Trong hai ngày đầu của thời gian chuyển đổi, nên sử dụng liều VKA tiêu chuẩn, tiếp đến liều VKA dựa trên xét nghiệm INR. Trong trường hợp bệnh nhân dùng cả Xelostad và VKA, nên kiểm tra chỉ số INR trước liều kế tiếp của Xelostad nhưng phải sau 24 giờ so với liều trước đó. Khi ngừng sử dụng Xelostad, tiến hành xét nghiệm INR 24 giờ sau liều cuối cùng để có kết quả tin cậy.
Chuyển đổi từ các thuốc chống đông đường tiêm sang Xelostad:
Đối với bệnh nhân đang dùng thuốc chống đông đường tiêm, ngừng dùng thuốc chống đông và bắt đầu Xelostad từ 0 - 2 giờ trước thời gian dùng tiếp theo của thuốc tiêm (ví dụ heparin trọng lượng phân tử thấp) hoặc tại thời điểm ngừng của một loại thuốc chống đông liều cao khác (ví dụ diltiazem) hoặc tại thời điểm ngừng của một loại thuốc chống đông đường tiêm.
Chuyển đổi từ Xelostad sang các thuốc chống đông đường tiêm:
Tiêm thuốc chống đông liều đầu tiên vào thời điểm uống Xelostad tiếp theo.
Suy thận:
Dữ liệu lâm sàng hạn chế trên những bệnh nhân suy thận nặng (độ thanh thải creatinin 15 - 29 ml/phút) cho thấy nồng độ rivaroxaban trong huyết tương tăng đáng kể. Vì vậy nên thận trọng khi dùng Xelostad ở những bệnh nhân này.
Không khuyến cáo sử dụng Xelostad trên những bệnh nhân có độ thanh thải creatinin < 15 ml/phút.
Ở những bệnh nhân suy thận mức độ trung bình (độ thanh thải creatinin 30 - 49 ml/phút) hoặc nặng (độ thanh thải creatinin 15 - 29 ml/phút) áp dụng theo liều khuyến cáo sau:
Trong dự phòng đột quỵ và thuyên tắc mạch toàn thân ở bệnh nhân rung nhĩ không do bệnh lý van tim, liều khuyến cáo là 15 mg x 1 lần/ngày.
Trong điều trị và phòng ngừa tái phát DVT và PE: Bệnh nhân nên được điều trị với 15 mg x 2 lần/ngày trong 3 tuần đầu. Sau đó, liều khuyến cáo là 20 mg x 1 lần/ngày. Nên cân nhắc giảm liều từ 20 mg x 1 lần/ngày xuống còn 15 mg x 1 lần/ngày nếu bệnh nhân được đánh giá có nguy cơ chảy máu cao hơn nguy cơ tái phát DVT và PE. Liều khuyến cáo 15 mg dựa trên các thông số nghiên cứu dược động học và chưa được nghiên cứu ở đối tượng lâm sàng này.
Khi dùng liều khuyến cáo 10 mg x 1 lần/ngày, không cần điều chỉnh liều.
Không cần điều chỉnh liều ở bệnh nhân suy thận nhẹ (độ thanh thải creatinin 50 - 80 ml/phút).
Suy gan:
Chống chỉ định Xelostad ở các bệnh nhân mắc bệnh gan đi kèm với bệnh đông máu và nguy cơ chảy máu có liên quan về mặt lâm sàng bao gồm cả những bệnh nhân xơ gan loại Child Pugh B và C.
Người cao tuổi: Không cần điều chỉnh liều.
Cân nặng: Không cần điều chỉnh liều theo cân nặng.
Giới tính: Không cần điều chỉnh liều theo giới tính.
Trẻ em: Sự an toàn và hiệu quả của Xelostad ở trẻ em từ 0 - 18 tuổi chưa được thiết lập. Chưa có dữ liệu. Do vậy, không nên dùng Xelostad cho trẻ em dưới 18 tuổi.
Bệnh nhân cần chuyển nhịp:
Bệnh nhân bị rung nhĩ không do bệnh lý van tim phải trải qua PCI (can thiệp mạch vành qua da) có đặt stent: Nên dùng liều đã giảm 15 mg rivaroxaban một lần mỗi ngày (hoặc 10 mg rivaroxaban một lần mỗi ngày cho bệnh nhân suy thận trung bình [độ thanh thải creatinin 30 - 49 ml/phút]) bồ sung vào phác đồ có chất ức chế P2Y12 trong tối đa 12 tháng ở những bệnh nhân bị rung nhĩ không do bệnh lý van tim cần phải chống đông bằng đường uống và trải qua PCI với đặt stent.
Lưu ý: Liều dùng trên chỉ mang tính chất tham khảo. Liều dùng cụ thể tùy thuộc vào thể trạng và mức độ diễn tiến của bệnh. Để có liều dùng phù hợp, bạn cần tham khảo ý kiến bác sĩ hoặc chuyên viên y tế.
Một số ít trường hợp quá liều lên đến 600 mg đã được báo cáo không có biến chứng chảy máu hoặc phản ứng bất lợi khác. Do sự hấp thu bị hạn chế, nên hiệu quả ở mức tối đa mà không tăng thêm mức tiếp xúc trung bình trong huyết tương có thể xảy ra ở liều trên liều điều trị ≥ 50 mg.
Tác nhân giải độc đặc hiệu đối kháng với tác dụng dược lực học của rivaroxaban là andexanet alfa.
Việc sử dụng than hoạt tính làm giảm hấp thu trong trường hợp quá liều rivaroxaban có thể được xem xét.
Xử trí chảy máu
Nếu biến chứng chảy máu xảy ra ở bệnh nhân đang dùng rivaroxaban, thì cần trì hoãn việc uống liều tiếp theo hoặc ngưng điều trị nếu thích hợp. Rivaroxaban có thời gian bán thải khoảng 5 - 13 giờ. Xử trí cho từng cá nhân tùy theo mức độ nghiêm trọng và vị trí xuất huyết. Điều trị triệu chứng thích hợp có thể được sử dụng khi cần thiết, cụ thể như nén ép cơ học (đối với trường hợp chảy máu cam nặng), cầm máu trong phẫu thuật với các thủ thuật kiểm soát chảy máu, truyền dịch và hỗ trợ về huyết động học, các sản phẩm máu (hồng cầu lắng hoặc huyết tương tươi đông lạnh, tùy thuộc vào tình trạng thiếu máu hoặc bệnh đông máu đi kèm) hoặc tiểu cầu.
Nếu chảy máu không thể kiểm soát được bằng các biện pháp trên, nên xem xét dùng một chất đặc hiệu thay đổi tiền đông máu, như phức hợp prothrombin cô đặc (PCC), phức hợp prothrombin hoạt hóa cô đặc (APCC), hoặc yếu tố VIla tái tổ hợp (r-FVIIa). Tuy nhiên, hiện nay kinh nghiệm lâm sàng còn rất hạn chế với việc sử dụng các sản phẩm này trên người đang dùng rivaroxaban. Khuyến cáo cũng dựa trên dữ liệu phi lâm sàng còn hạn chế. Xem xét dùng lại yếu tố VIla tái tổ hợp và chuẩn liều tùy thuộc vào việc cải thiện tình trạng chảy máu. Tùy thuộc vào điều kiện thực tế, nên tham khảo ý kiến của các bác sĩ chuyên khoa về đông máu trong trường hợp bệnh nhân bị chảy máu nặng.
Protamine sulfate và vitamin K sẽ không ảnh hưởng đến hoạt tính chống đông máu của rivaroxaban. Kinh nghiệm còn hạn chế với tranexamic acid và không có kinh nghiệm với aminocaproic acid và aprotinin ở người dùng rivaroxaban. Không có lý do khoa học cho lợi ích cũng như kinh nghiệm với việc dùng desmopressin cầm máu toàn thân trên những người dùng rivaroxaban.
Trong trường hợp khẩn cấp, hãy gọi ngay cho Trung tâm cấp cứu 115 hoặc đến trạm Y tế địa phương gần nhất.
Không dùng liều gấp đôi để bù cho liều đã bị bỏ lỡ.
Rất thường gặp (ADR ≥ 1/10), thường gặp (1/100 ≤ ADR < 1/10), ít gặp (1/1000 ≤ ADR < 1/100), hiếm gặp (1/10.000 ≤ ADR < 1/1000), rất hiếm gặp (ADR < 1/10.000), chưa rõ tần suất (không thể ước tính từ các dữ liệu có sẵn).
Máu và bạch huyết
Miễn dịch
Thần kinh
Mắt
Tim
Mạch máu
Hô hấp, lồng ngực và trung thất
Tiêu hóa
Gan - mật
Da và mô dưới da
Cơ xương và mô liên kết
Thận và tiết niệu
Toàn thân và vị trí dùng thuốc
Các xét nghiệm
Tổn thương, ngộ độc và các biến chứng sau thủ thuật
Trước khi sử dụng thuốc bạn cần đọc kỹ hướng dẫn sử dụng và tham khảo thông tin bên dưới.
Thuốc Xelostad chống chỉ định trong các trường hợp sau:
Nguy cơ xuất huyết:
Giống như các thuốc chống đông khác, bệnh nhân đang dùng Xelostad phải được theo dõi các dấu hiệu chảy máu. Thận trọng sử dụng cho các trường hợp có nguy cơ xuất huyết cao. Ngưng dùng Xelostad khi có xuất huyết trầm trọng.
Trong các nghiên cứu lâm sàng, chảy máu niêm mạc (như chảy máu cam, nướu răng, tiêu hóa, niệu sinh dục bao gồm xuất huyết âm đạo bất thường hoặc tăng xuất huyết kinh nguyệt) và thiếu máu xuất hiện nhiều hơn trong điều trị dài hạn bằng rivaroxaban so với điều trị bằng VKA. Ngoài việc theo dõi lâm sàng đầy đủ, thì xét nghiệm hemoglobin/hematocrit có thể có giá trị để phát hiện chảy máu bị che lấp và định lượng mức độ lâm sàng của việc chảy máu quá mức, được đánh giá là phù hợp.
Vài phân nhóm bệnh nhân có nguy cơ bị chảy máu cao. Sau khi bắt đầu điều trị ở những bệnh nhân này, cần theo dõi các dấu hiệu và triệu chứng của các biến chứng chảy máu và thiếu máu.
Bất kỳ trường hợp giảm hemoglobin hoặc hạ huyết áp nào không giải thích được phải tìm ra vị trí chảy máu.
Mặc dù điều trị bằng rivaroxaban không yêu cầu theo dõi nồng độ thuốc trong máu thường xuyên, nhưng nồng độ rivaroxaban được đo lường với xét nghiệm định lượng kháng yếu tố Xa được chuẩn định có thể có ích trong những trường hợp ngoại lệ mà sự am hiểu về mức nồng độ rivaroxaban có thể giúp cho những quyết định về lâm sàng như quá liều và phẫu thuật cấp cứu.
Suy thận:
Nồng độ rivaroxaban trong huyết tương có thể tăng lên đáng kể ở bệnh nhân suy thận nặng có độ thanh thải creatinin < 30 ml/phút (trung bình gấp 1,6 lần), dẫn tới tăng nguy cơ chảy máu. Dùng thận trọng Xelostad cho bệnh nhân suy thận có độ thanh thải creatinin 15 - 29 ml/phút. Không sử dụng cho bệnh nhân có độ thanh thải creatinin < 15 ml/phút.
Thận trọng khi sử dụng Xelostad cho bệnh nhân suy thận có sử dụng đồng thời các thuốc khác có thể làm tăng nồng độ rivaroxaban trong huyết tương.
Tương tác với các thuốc khác:
Không sử dụng Xelostad cho các bệnh nhân đang sử dụng thuốc chống nấm nhóm azole dùng đường toàn thân (như ketoconazole, itraconazole, voriconazole và posaconazole) hoặc các thuốc ức chế HIV protease (như ritonavir). Các thuốc này ức chế mạnh cả CYP3A4 và P-gp, vì vậy có thể làm tăng nồng độ rivaroxaban trong huyết tương đến mức có liên quan lâm sàng (trung bình gấp 2,6 lần) có thể gây tăng nguy cơ chảy máu.
Thận trọng dùng cho bệnh nhân điều trị đồng thời với các thuốc tác động đến sự cầm máu như các thuốc kháng viêm không steroid (NSAID), acetylsalicylic acid (ASA), các thuốc chống kết tập tiểu cầu, các thuốc tái hấp thu serotonin có chọn lọc (SSRIs) và các thuốc ức chế tái hấp thu serotonin - norepinephrine (SNRIs). Đối với bệnh nhân có nguy cơ bị loét đường tiêu hóa, cân nhắc điều trị dự phòng phù hợp.
Các yếu tố xuất huyết khác:
Cũng giống như các thuốc chống huyết khối khác, rivaroxaban cần được sử dụng thận trọng ở bệnh nhân có nguy cơ chảy máu cao như:
Bệnh nhân dùng van tim nhân tạo:
Tính an toàn và hiệu quả của Xelostad chưa được thiết lập. Do đó, không có dữ liệu cho thấy Xelostad đem lại sự chống đông đầy đủ cho nhóm bệnh nhân này. Không dùng Xelostad cho nhóm bệnh nhân này.
Những bệnh nhân mắc hội chứng kháng phospholipid:
Thuốc chống đông đường uống tác dụng trực tiếp (DOAC) bao gồm rivaroxaban không được khuyến cáo sử dụng cho bệnh nhân có tiền sử huyết khối được chẩn đoán mắc hội chứng kháng phospholipid. Đặc biệt đối với những bệnh nhân dương tính với cả 3 xét nghiệm (xét nghiệm kháng đông lupus, kháng thể kháng cardiolipin và kháng thể kháng beta 2-glycoprotein I), việc điều trị bằng DOAC có thể liên quan đến tăng tỷ lệ tái phát biến cố huyết khối so với điều trị bằng thuốc kháng vitamin K.
Những bệnh nhân rung nhĩ không do bệnh lý van tim trải qua PCI có đặt stent:
Các dữ liệu lâm sàng có được từ một nghiên cứu can thiệp với mục đích chính là đánh giá sự an toàn ở những bệnh nhân có rung nhĩ không phải do bệnh van tim trải qua PCI, có kèm đặt stent. Dữ liệu về hiệu quả trong quần thể này rất hạn chế.
Những bệnh nhân bị thuyên tắc phổi (PE) có huyết động học không ổn định hoặc bệnh nhân cần làm tan huyết khối hay thủ thuật lấy bỏ vật nghẽn mạch phổi:
Xelostad không khuyến cáo điều trị thay thế cho heparin không phân đoạn trên bệnh nhân có thuyên tắc phổi có huyết động học không ổn định hoặc có thể điều trị tan huyết khối hay làm thủ thuật lấy bỏ vật nghẽn mạch phổi do độ an toàn và hiệu quả của Xelostad chưa được chứng minh trong những tình huống lâm sàng này.
Phụ nữ có thai
Chưa có dữ liệu an toàn và hiệu quả của rivaroxaban ở phụ nữ mang thai. Nghiên cứu trên động vật cho thấy có độc tính trên sinh sản. Do độc tính sinh sản tiềm ẩn nguy cơ chảy máu nội sinh và bằng chứng cho thấy rivaroxaban qua được nhau thai, chống chỉ định sử dụng rivaroxaban cho phụ nữ mang thai. Phụ nữ có khả năng sinh sản nên tránh mang thai trong thời gian điều trị với rivaroxaban.
Phụ nữ cho con bú
Chưa có dữ liệu an toàn và hiệu quả của rivaroxaban trên phụ nữ cho con bú. Số liệu nghiên cứu ở động vật cho thấy rivaroxaban được tiết vào sữa mẹ. Vì vậy, chống chỉ định sử dụng rivaroxaban trong khi nuôi con bú, cần phải quyết định ngừng cho con bú hoặc ngừng thuốc.
Khả năng sinh sản
Không có nghiên cứu ảnh hưởng của rivaroxaban trên khả năng sinh sản ở người. Nghiên cứu trên chuột đực và cái cho thấy thuốc không ảnh hưởng trên khả năng sinh sản.
Xelostad ít có ảnh hưởng đến khả năng lái xe và vận hành máy móc. Ngất (tần suất: Ít gặp) và chóng mặt (tần suất: Thường gặp) đã được báo cáo. Bệnh nhân gặp những tác dụng không mong muốn này không nên lái xe và vận hành máy móc.
Thuốc ức chế CYP3A4 và P-gp: Dùng đồng thời rivaroxaban với ketoconazole (400 mg x 1 lần/ngày) hoặc ritonavir (600 mg x 2 lần/ngày) làm tăng AUC trung bình của rivaroxaban lên 2,6/2,5 lần và Cmax trung bình của rivaroxaban tăng lên 1,7/1,6 lần, đồng thời tác dụng dược lực cũng tăng lên đáng kể dẫn tới nguy cơ chảy máu cũng gia tăng. Vì vậy, khuyến cáo không sử dụng Xelostad đồng thời với các thuốc kháng nấm azole dùng đường toàn thân như ketoconazole, itraconazole, voriconazole và posaconazole hoặc các thuốc ức chế HIV protease. Đây là những thuốc ức chế mạnh CYP3A4 và P-gp.
Thuốc chống đông máu: Khi phối hợp enoxaparin (40 mg liều duy nhất) với rivaroxaban (10 mg liều duy nhất), đã nhận thấy có tác dụng cộng thêm trên hoạt tính kháng yếu tố Xa nhưng không có tác dụng cộng thêm trên xét nghiệm đông máu (PT, aPTT). Enoxaparin không ảnh hưởng đến dược động học của rivaroxaban. Do nguy cơ chảy máu gia tăng nên cần chú ý bệnh nhân nếu điều trị đồng thời với bất kỳ các thuốc chống đông khác.
NSAID/ thuốc ức chế kết tập tiểu cầu: Cần giám sát chặt chẽ bệnh nhân được điều trị đồng thời với NSAID (bao gồm acetylsalicylic acid) và các thuốc ức chế kết tập tiểu cầu vì đây là những thuốc điển hình làm tăng nguy cơ chảy máu.
SSRI/SNRI: Giống với các thuốc chống đông khác, nguy cơ chảy máu tăng lên nếu điều trị đồng thời với SSRI/SNRI, do ảnh hưởng đã được báo cáo của các thuốc này trên tiểu cầu.
Warfarin: Không có tương tác dược động học giữa warfarin với rivaroxaban.
Thuốc cảm ứng CYP3A4: Dùng đồng thời rivaroxaban với thuốc cảm ứng CYP3A4 mạnh như rifampicin, làm giảm khoảng 50% AUC trung bình của rivaroxaban, đồng thời làm giảm tác dụng dược lực của thuốc. Sử dụng đồng thời rivaroxaban với các thuốc cảm ứng CYP3A4 mạnh khác (như phenytoin, carbamazepine, phenobarbital hay St. John’s Wort (Hypericum perforatum) cũng có thể làm giảm nồng độ rivaroxaban trong huyết tương. Do đó, nên tránh sử dụng đồng thời với các thuốc cảm ứng CYP3A4 mạnh trừ khi bệnh nhân được theo dõi chặt chẽ các dấu hiệu và triệu chứng của huyết khối.
Các phối hợp khác: Rivaroxaban không ức chế cũng không cảm ứng bất kỳ đồng phân CYP chính nào như CYP3A4.
Các thông số xét nghiệm: Các thông số xét nghiệm đông máu (ví dụ PT, APTT, HepTest) được cho là có bị ảnh hưởng do phương thức tác dụng của rivaroxaban.
Tương kỵ của thuốc:
Do không có các nghiên cứu về tính tương kỵ của thuốc, không trộn lẫn thuốc này với các thuốc khác.
Bảo quản trong bao bì kín, nơi khô. Nhiệt độ không quá 30oC.
Mọi thông tin trên đây chỉ mang tính chất tham khảo. Việc sử dụng thuốc phải tuân theo hướng dẫn của bác sĩ chuyên môn.
Tốt nghiệp loại giỏi trường Đại học Y Dược Huế. Từng tham gia nghiên cứu khoa học đề tài về Dược liệu. Nhiều năm kinh nghiệm làm việc trong lĩnh vực Dược phẩm. Hiện đang là giảng viên cho Dược sĩ tại Nhà thuốc Long Châu.
Warfarin: Không có tương tác dược động học giữa warfarin với rivaroxaban.
Phụ nữ mang thai và cho con bú không dùng thuốc Xelostad.
Xelostad được dùng bằng đường uống, viên được uống cùng với thức ăn.
Đối với bệnh nhân không thể nuốt nguyên viên thuốc, thì có thể nghiền viên thuốc Xelostad và trộn với nước hay thức ăn mềm như nước táo ngay trước khi dùng và được dùng qua đường uống. Sau khi uống viên Xelostad được nghiền ra, thì nên tiếp ngay sau với thức ăn.
Nhóm dược lý: Chất ức chế trực tiếp yếu tố Xa. Mã ATC: B01AF01.
Thuốc Xelostad chỉ định điều trị trong trường hợp:

Hãy sử dụng sản phẩm và trở thành người đầu tiên đánh giá trải nghiệm nha.
:format(webp)/DSC_06361_cbcdcaa772.png)
Hỏi đáp (0 bình luận)