28/02/2026
Mặc định
Lớn hơn
Triptorelin là một chất đồng vận GnRH (gonadotropin-releasing hormone), được sử dụng chủ yếu trong điều trị ung thư tuyến tiền liệt, lạc nội mạc tử cung và dậy thì sớm trung ương. Hoạt chất này tác động lên trục dưới đồi - tuyến yên, làm giảm tiết hormone sinh dục khi dùng kéo dài. Triptorelin là thuốc kê đơn, cần sử dụng dưới sự theo dõi chặt chẽ của bác sĩ do ảnh hưởng mạnh đến nội tiết. Chống chỉ định cho phụ nữ có thai và cần thận trọng với các tác dụng phụ liên quan đến suy giảm hormone.
Tên thuốc gốc (Hoạt chất)
Triptorelin
Loại thuốc
Thuốc tương tự hormone giải phóng gonadotropin (GnRH agonist).
Dạng thuốc và hàm lượng
Thuốc thường được bào chế dưới dạng muối Triptorelin embonate, pamoate hoặc acetate.
Dạng dùng phổ biến là bột kèm dung môi để pha hỗn dịch tiêm, với các hàm lượng 3 mg, 3,75 mg, 11,25 mg và 22,5 mg, được tính theo Triptorelin.

Triptorelin được chỉ định ở các trường hợp như:
Triptorelin là một chất đồng vận hormone giải phóng gonadotropin (GnRH), thuộc nhóm decapeptid có nguồn gốc từ vùng dưới đồi, có vai trò điều hòa quá trình tổng hợp và phóng thích hormone kích thích nang trứng (FSH) và hormone hoàng thể hóa (LH). So với GnRH nội sinh, thuốc có thời gian tác dụng kéo dài hơn, độ thanh thải thấp và hiệu lực sinh học mạnh hơn.
Trong giai đoạn khởi trị, Triptorelin có thể gây tăng thoáng qua nồng độ FSH, LH, testosterone và estradiol trong tuần hoàn. Khi sử dụng liên tục và kéo dài, thuốc gây ức chế bền vững sự tiết gonadotropin từ tuyến yên, dẫn đến giảm LH, FSH và làm giảm rõ rệt quá trình sản xuất hormone steroid của tinh hoàn và buồng trứng.
Ở nam giới, sau khoảng 2 - 4 tuần điều trị, nồng độ testosterone huyết thanh giảm dần và đạt mức tương đương với phẫu thuật cắt bỏ tinh hoàn. Sự suy giảm này dẫn đến teo các cơ quan sinh dục nam, từ đó góp phần làm thoái triển khối u ung thư tuyến tiền liệt và cải thiện triệu chứng lâm sàng ở đa số người bệnh. Những tác động này thường có tính hồi phục và có thể cải thiện sau khi ngừng điều trị.
Ở phụ nữ tiền mãn kinh, nồng độ estradiol huyết thanh giảm xuống mức tương đương giai đoạn sau mãn kinh trong vòng khoảng 1 tháng kể từ khi bắt đầu điều trị. Sự suy giảm hormone này dẫn đến teo các cơ quan sinh dục nữ.
Ở trẻ mắc dậy thì sớm trung ương (do hoạt hóa sớm trục dưới đồi - tuyến yên - tuyến sinh dục), Triptorelin gây ức chế có hồi phục sự tiết gonadotropin từ tuyến yên, làm giảm nồng độ estradiol hoặc testosterone về mức sinh lý trước tuổi dậy thì. Nhờ đó, thuốc giúp làm chậm tiến triển dậy thì sớm, cải thiện và bình thường hóa mối tương quan giữa tuổi xương và tuổi thực, ngăn tình trạng tăng nhanh tuổi xương, điều chỉnh tốc độ phát triển thể chất và góp phần cải thiện chiều cao khi trẻ đạt đến tuổi trưởng thành.
Triptorelin được hấp thu tốt khi sử dụng đường tiêm bắp. Nồng độ đỉnh trong huyết tương đạt được sau khoảng 1 - 3 giờ ở bệnh nhân ung thư tuyến tiền liệt và khoảng 4 giờ ở trẻ từ 2 - 9 tuổi sau khi tiêm bắp Triptorelin liều 22,5 mg mỗi 24 tuần.
Thể tích phân bố (Vd) ở nam giới khoảng 30 lít. Hiện chưa xác định được thuốc có bài tiết vào sữa mẹ hay không. Không ghi nhận bằng chứng về sự gắn kết đáng kể với protein huyết tương.
Ở người, Triptorelin ít bị chuyển hóa bởi hệ enzym cytochrom P450. Đến nay, chưa xác định được các chất chuyển hóa đặc hiệu của hoạt chất này.
Triptorelin được đào thải qua cả gan và thận. Sau khi tiêm tĩnh mạch liều 0,5 mg, khoảng 42% liều dùng được bài tiết qua nước tiểu dưới dạng chưa biến đổi. Thời gian bán thải của thuốc vào khoảng 3 giờ, với độ thanh thải toàn phần khoảng 212 ml/phút.
Cần tránh sử dụng đồng thời Triptorelin với các thuốc làm tăng nồng độ prolactin máu, bao gồm thuốc chống loạn thần (như chlorpromazin, haloperidol, molindon, olanzapin, prochlorperazin, risperidon), methyldopa, metoclopramid và reserpin. Việc phối hợp này có thể làm giảm hiệu quả điều trị của Triptorelin do gây giảm mật độ thụ thể GnRH tại tuyến yên.
Thận trọng khi dùng chung với các thuốc ảnh hưởng đến sự tiết gonadotropin của tuyến yên, trong những trường hợp này, cần theo dõi nồng độ hormone của người bệnh.
Điều trị bằng các thuốc ức chế androgen có thể làm kéo dài khoảng QT. Vì vậy, khi phối hợp Triptorelin với thuốc kéo dài khoảng QT hoặc thuốc có nguy cơ gây xoắn đỉnh, bao gồm thuốc chống loạn nhịp nhóm IA (quinidin, disopyramid), nhóm III (amiodaron, sotalol, dofetilid, ibutilid), methadon, moxifloxacin và một số thuốc chống loạn thần, cần giám sát chặt chẽ tình trạng lâm sàng và điện tâm đồ của bệnh nhân.

Chống chỉ định của Triptorelin:
Người lớn
Ung thư tuyến tiền liệt giai đoạn tiến triển: Triptorelin được tiêm bắp với liều 3,75 mg mỗi 4 tuần, hoặc 11,25 mg mỗi 12 tuần, hoặc 22,5 mg mỗi 24 tuần, tùy theo phác đồ điều trị và đánh giá lâm sàng.
Lạc nội mạc tử cung: Triptorelin được tiêm bắp với liều 3 mg hoặc 3,75 mg mỗi 4 tuần, hoặc 11,25 mg mỗi 3 tháng, thời gian điều trị tối đa 6 tháng và không lặp lại, bắt đầu trong 5 ngày đầu của chu kỳ kinh nguyệt.
Giảm kích thước u xơ tử cung: Triptorelin được tiêm bắp với liều 3 mg hoặc 3,75 mg mỗi 4 tuần, sử dụng ít nhất 3 tháng và không quá 6 tháng, không lặp lại liệu trình, khởi trị trong 5 ngày đầu của chu kỳ kinh nguyệt.
Trẻ em
Dậy thì sớm trung ương: Trẻ em trên 2 tuổi, dậy thì sớm trước 8 tuổi ở bé gái và trước 10 tuổi ở bé trai, được điều trị bằng tiêm bắp Triptorelin 22,5 mg mỗi 24 tuần. Việc điều trị được ngừng khi trẻ đạt đến độ tuổi dậy thì phù hợp.
Thuốc được sử dụng bằng đường tiêm bắp, có thể tiêm vào hai bên mông hoặc vùng cơ đùi và cần thay đổi vị trí tiêm theo định kỳ để hạn chế phản ứng tại chỗ. Bột pha tiêm phải được hoàn nguyên ngay trước thời điểm sử dụng nhằm bảo đảm hiệu quả và độ ổn định của thuốc.

Trong giai đoạn khởi đầu điều trị (tuần đầu tiên), đa số người lớn dùng thuốc để điều trị ung thư tuyến tiền liệt có thể xuất hiện tăng thoáng qua nồng độ testosterone huyết thanh, từ đó làm triệu chứng bệnh tạm thời nặng hơn. Khoảng từ 10% bệnh nhân trở lên sử dụng dạng bào chế 11,25 mg ghi nhận bất thường các chỉ số xét nghiệm, bao gồm giảm hemoglobin và số lượng hồng cầu, tăng glucose máu, BUN, AST, ALT và phosphat kiềm. Tương tự, ở dạng bào chế 22,5 mg, ít nhất 10% người bệnh xuất hiện giảm hemoglobin, tăng glucose huyết và tăng AST. Ngoài ra, trong quá trình điều trị có thể gặp thêm một số phản ứng có hại khác như:
Một số tác dụng phụ thường gặp như:
Những tác dụng phụ ít gặp hơn như:
Hiếm gặp hơn ở Triptorelin có các tác dụng phụ như:
Phù mạch, lo âu, rối loạn xương, cảm giác khó chịu, kéo dài khoảng QT.

Lưu ý chung khi sử dụng Triptorelin:
Không nên sử dụng thuốc trong giai đoạn mang thai, vì các chất chủ vận LHRH có thể làm tăng nguy cơ sảy thai hoặc gây dị tật cho thai nhi. Trước khi bắt đầu điều trị, phụ nữ trong độ tuổi sinh sản cần được đánh giá kỹ lưỡng để loại trừ khả năng đang mang thai.
Không khuyến cáo dùng thuốc cho phụ nữ đang nuôi con bằng sữa mẹ. Hiện chưa có dữ liệu xác định Triptorelin có bài tiết vào sữa mẹ hay không. Do nguy cơ xảy ra phản ứng có hại trên trẻ bú mẹ, cần ngừng cho trẻ bú trước và trong suốt thời gian điều trị bằng thuốc.

Hiện chưa có dữ liệu nghiên cứu đánh giá tác động của thuốc đối với khả năng lái xe và vận hành máy móc. Tuy vậy, các hoạt động này có thể bị ảnh hưởng nếu người bệnh xuất hiện chóng mặt, buồn ngủ hoặc rối loạn thị giác - những phản ứng bất lợi có thể gặp trong quá trình điều trị hoặc do tình trạng bệnh lý nền của người bệnh.
Quá liều và độc tính
Hiện chưa ghi nhận trường hợp quá liều nào.
Cách xử lý khi quá liều
Khi xảy ra, việc xử trí chủ yếu là điều trị triệu chứng kết hợp các biện pháp hỗ trợ thích hợp.
Trong trường hợp quên liều, cần tiêm bổ sung sớm nhất có thể ngay khi nhớ ra. Sau đó, tiếp tục duy trì lịch tiêm theo đúng khoảng thời gian đã được chỉ định. Không được tiêm gấp đôi liều để bù cho liều đã quên.
Nếu việc quên liều kéo dài hoặc không chắc chắn về thời điểm tiêm tiếp theo, cần thông báo cho bác sĩ hoặc nhân viên y tế để được hướng dẫn điều chỉnh lịch dùng thuốc phù hợp.