Tốt nghiệp Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh. Có nhiều năm trong lĩnh vực dược phẩm. Hiện đang là giảng viên cho Dược sĩ tại Nhà thuốc Long Châu.
Thanh Hương
24/09/2026
Mặc định
Lớn hơn
Suy hô hấp là tình trạng nghiêm trọng, xảy ra khi hệ hô hấp không đáp ứng đủ nhu cầu trao đổi khí của cơ thể. Chẩn đoán suy hô hấp cần dựa trên triệu chứng, thăm khám và các xét nghiệm phù hợp. Vậy tiêu chuẩn chẩn đoán suy hô hấp theo Bộ Y tế gồm những gì?
Khó thở, thở nhanh, tím tái hoặc giảm nồng độ oxy máu có thể là dấu hiệu của suy hô hấp. Chẩn đoán sớm giúp xác định mức độ thiếu oxy, ứ đọng khí carbon dioxide và lựa chọn hướng xử trí phù hợp. Trong bài viết này, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu tiêu chuẩn và phương pháp chẩn đoán suy hô hấp Bộ Y Tế.
Suy hô hấp là tình trạng hệ hô hấp không đảm bảo được chức năng trao đổi khí của cơ thể. Khi đó, máu có thể không nhận đủ oxy hoặc không đào thải hiệu quả khí carbon dioxide (CO₂). Tình trạng này có thể gây giảm oxy máu, tăng CO₂ máu hoặc xảy ra đồng thời cả hai.

Suy hô hấp có thể diễn biến nhanh và trở nên nghiêm trọng nếu không được phát hiện, xử trí kịp thời. Người bệnh có thể xuất hiện khó thở, thở bất thường, tím tái, vã mồ hôi hoặc thay đổi ý thức. Vì vậy, chẩn đoán suy hô hấp cần kết hợp đánh giá các dấu hiệu lâm sàng với những xét nghiệm cận lâm sàng phù hợp.
Chẩn đoán suy hô hấp Bộ Y Tế được xác định dựa trên các biểu hiện lâm sàng kết hợp với khí máu động mạch, trong đó suy hô hấp giảm oxy được xác định khi PaO₂ <60 mmHg khi thở khí phòng và suy hô hấp tăng CO₂ khi PaCO₂ >50 mmHg.
Chẩn đoán suy hô hấp trước hết dựa trên các biểu hiện lâm sàng:

Khí máu động mạch giúp đánh giá đồng thời tình trạng oxy hóa, thông khí và thăng bằng acid-base. PaO₂ và PaO₂/FiO₂ có giá trị đánh giá oxy hóa máu, PaCO₂ đánh giá thông khí, pH và HCO₃⁻ giúp nhận định rối loạn acid-base. Các chỉ số cần được diễn giải trong bối cảnh lâm sàng và nguyên nhân bệnh.
Quyết định 1493/QĐ-BYT nêu X-quang phổi có ý nghĩa trong định hướng nguyên nhân suy hô hấp và liệt kê CT phổi cùng nhiều xét nghiệm khác tùy trường hợp.
X-quang giúp phát hiện các tổn thương tại phổi và lồng ngực, đồng thời hỗ trợ tìm nguyên nhân gây suy hô hấp. Tùy tình trạng, hình ảnh có thể cho thấy những bất thường như tổn thương nhu mô phổi, phù phổi hoặc tràn khí màng phổi. Kết quả X-quang cần được bác sĩ đối chiếu với triệu chứng lâm sàng và các chỉ số khí máu động mạch để đánh giá toàn diện.

Trong một số trường hợp, bác sĩ có thể chỉ định chụp CT phổi khi cần đánh giá chi tiết hơn tổn thương tại phổi, màng phổi hoặc lồng ngực. Phương pháp này có thể hỗ trợ tìm nguyên nhân chưa được xác định rõ trên X-quang hoặc phát hiện những tổn thương phức tạp. Tuy nhiên, bác sĩ cần kết hợp kết quả hình ảnh với biểu hiện lâm sàng, SpO₂ và khí máu động mạch để đưa ra đánh giá phù hợp.
Theo Hướng dẫn chẩn đoán và xử trí hồi sức tích cực ban hành kèm Quyết định 1493/QĐ-BYT ngày 22/4/2015, suy hô hấp cấp được đánh giá mức độ dựa trên các biểu hiện lâm sàng. Bộ Y tế chia thành loại nặng và loại nguy kịch.
Yếu tố đánh giá | Loại nặng | Loại nguy kịch |
Xanh tím | ++ | +++ |
Vã mồ hôi | + | +++ |
Khó thở | ++ | +++ |
Huyết áp | Không ghi nhận tăng hoặc tụt huyết áp do suy hô hấp | Tăng huyết áp hoặc tụt huyết áp (trụy mạch), có thể là dấu hiệu sắp tử vong |
Rối loạn ý thức | Không | Có thể giãy giụa, lờ đờ, hôn mê ở mức độ nặng hơn |
Việc phân mức độ suy hô hấp không nên dựa vào một dấu hiệu đơn lẻ. Bác sĩ cần kết hợp đánh giá lâm sàng với khí máu động mạch và các xét nghiệm cần thiết để xác định loại suy hô hấp, mức độ rối loạn trao đổi khí và nguyên nhân gây bệnh. Theo hướng dẫn của Bộ Y tế, khí máu động mạch có vai trò quan trọng trong chẩn đoán, phân loại và đánh giá mức độ nặng của suy hô hấp cấp.

Chẩn đoán suy hô hấp Bộ Y Tế cần kết hợp giữa triệu chứng lâm sàng, chỉ số cận lâm sàng và diễn biến của người bệnh để đánh giá chính xác mức độ bệnh.
Khó thở là biểu hiện thường gặp ở người bệnh suy hô hấp nhưng mức độ khó thở không phải lúc nào cũng phản ánh chính xác mức độ nghiêm trọng. Một số người bệnh có thể bị suy hô hấp nặng nhưng cảm giác khó thở không rõ ràng. Vì vậy, bác sĩ cần chú ý thêm các dấu hiệu như thở nhanh, thở gắng sức, co kéo cơ hô hấp phụ hoặc thay đổi nhịp thở. Đặc biệt, thở chậm và thở yếu có thể là dấu hiệu cảnh báo tình trạng hô hấp đang suy giảm nghiêm trọng.
Chẩn đoán suy hô hấp cần dựa trên đánh giá tổng thể tình trạng người bệnh thay vì chỉ dựa vào một chỉ số riêng lẻ. Bác sĩ thường kết hợp các biểu hiện lâm sàng với SpO₂, khí máu động mạch và kết quả chẩn đoán hình ảnh khi cần thiết. Cách tiếp cận này giúp đánh giá chính xác hơn mức độ rối loạn trao đổi khí, đồng thời hỗ trợ xác định nguyên nhân gây suy hô hấp.

Chẩn đoán suy hô hấp Bộ Y Tế cần được thực hiện dựa trên biểu hiện lâm sàng, chỉ số oxy máu và các xét nghiệm cần thiết. Việc đánh giá sớm giúp xác định mức độ bệnh và hỗ trợ lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp. Khi có dấu hiệu nghi ngờ suy hô hấp, người bệnh nên được đưa đến cơ sở y tế để thăm khám kịp thời.
Dược sĩ Đại họcNguyễn Vũ Kiều Ngân
Tốt nghiệp Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh. Có nhiều năm trong lĩnh vực dược phẩm. Hiện đang là giảng viên cho Dược sĩ tại Nhà thuốc Long Châu.