Tốt nghiệp Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh. Có nhiều năm trong lĩnh vực dược phẩm. Hiện đang là giảng viên cho Dược sĩ tại Nhà thuốc Long Châu.
Thanh Hương
27/09/2026
Mặc định
Lớn hơn
Giải phẫu mạch máu chi trên là nội dung quan trọng giúp hiểu rõ hệ thống động mạch, tĩnh mạch và mạng lưới mao mạch ở vùng vai, cánh tay, cẳng tay và bàn tay. Nắm được cấu tạo, vị trí và chức năng của các mạch máu giúp nhận biết vai trò của chúng đối với quá trình đưa máu đến các mô và cơ quan.
Hệ mạch máu chi trên gồm động mạch, tĩnh mạch chi trên và mao mạch, phân bố từ vùng vai đến bàn tay. Tìm hiểu giải phẫu mạch máu chi trên giúp người đọc có thêm kiến thức về đường đi của các động mạch, tĩnh mạch chính và vai trò của hệ tuần hoàn ở chi trên.
Hệ động mạch chi trên là mạng lưới mạch máu có vai trò đưa máu giàu oxy từ tim đến vùng vai, cánh tay, cẳng tay và bàn tay. Về giải phẫu, hệ động mạch này gồm nhiều đoạn nối tiếp và các nhánh bên, tạo thành mạng lưới phong phú giúp đảm bảo tưới máu cho các cấu trúc của chi trên.
Động mạch dưới đòn là một trong những mạch máu lớn cung cấp máu cho chi trên. Động mạch dưới đòn bên phải thường xuất phát từ thân động mạch cánh tay đầu, còn bên trái xuất phát trực tiếp từ cung động mạch chủ. Động mạch đi dưới xương đòn và trở thành động mạch nách khi vượt qua bờ ngoài xương sườn I.
Động mạch nách là phần tiếp nối của động mạch dưới đòn sau khi động mạch này vượt qua bờ ngoài xương sườn I. Động mạch nách đi qua vùng nách, cho các nhánh cấp máu cho vùng vai và thành ngực, sau đó trở thành động mạch cánh tay tại bờ dưới cơ tròn lớn.

Động mạch cánh tay chạy dọc cánh tay và thường chia thành động mạch quay và động mạch trụ tại vùng hố khuỷu, tạo thành hai động mạch chính tiếp tục cấp máu cho cẳng tay và bàn tay. Ngoài ra, các nhánh của động mạch cánh tay còn tham gia tạo mạng mạch quanh khuỷu, giúp đảm bảo tuần hoàn cho khu vực này.
Động mạch quay là một trong hai nhánh tận chính của động mạch cánh tay. Mạch chạy chủ yếu ở phía ngoài của cẳng tay, từ vùng khuỷu xuống cổ tay rồi tiếp tục vào bàn tay. Do nằm tương đối nông ở vùng cổ tay, động mạch quay thường được sử dụng để bắt mạch trong quá trình thăm khám. Khi đến bàn tay, động mạch quay tiếp tục phân nhánh và tham gia tạo các cung động mạch gan tay, góp phần cung cấp máu cho lòng bàn tay và các ngón tay.
Động mạch trụ là nhánh tận còn lại của động mạch cánh tay, chạy chủ yếu ở phía trong của cẳng tay. Mạch có nhiệm vụ đưa máu đến nhiều cấu trúc ở cẳng tay và tiếp tục đi vào bàn tay. Tại bàn tay, động mạch trụ tham gia quan trọng vào việc hình thành cung động mạch gan tay nông và góp phần tạo nên mạng lưới mạch máu nuôi dưỡng các ngón tay. Động mạch trụ và động mạch quay có nhiều nhánh nối thông với nhau, giúp duy trì sự phân phối máu cho bàn tay.
Tại bàn tay, động mạch quay và động mạch trụ có nhiều nhánh nối thông, góp phần hình thành cung gan tay nông và cung gan tay sâu. Thông thường, động mạch trụ đóng góp chủ yếu vào cung gan tay nông, trong khi động mạch quay đóng góp chủ yếu vào cung gan tay sâu. Từ các cung động mạch này, nhiều nhánh tiếp tục phân chia để cung cấp máu cho lòng bàn tay và các ngón tay.

Tĩnh mạch chi trên có nhiệm vụ đưa máu từ các mô ở chi trên trở về tim, gồm hệ tĩnh mạch nông và sâu với nhiều nhánh liên kết.
Tĩnh mạch nông chi trên nằm tương đối gần bề mặt da, đặc biệt rõ ở vùng cẳng tay và bàn tay nên có thể quan sát hoặc sờ thấy ở một số người. Hai tĩnh mạch nông quan trọng là tĩnh mạch đầu và tĩnh mạch nền. Tĩnh mạch đầu đi chủ yếu ở phía ngoài của chi trên, bắt đầu từ mạng tĩnh mạch ở mu bàn tay và tiếp tục lên cẳng tay, cánh tay. Trong khi đó, tĩnh mạch nền đi chủ yếu ở phía trong chi trên và cũng nhận máu từ mạng tĩnh mạch ở bàn tay. Hai hệ thống có nhiều nhánh nối, trong đó tĩnh mạch giữa khuỷu thường kết nối tĩnh mạch đầu và tĩnh mạch nền tại vùng hố khuỷu.
Tĩnh mạch sâu chi trên nằm sâu trong các lớp mô và thường đi kèm với các động mạch tương ứng. Hệ thống này tiếp nhận máu từ các mô sâu ở cẳng tay và cánh tay. Các tĩnh mạch quay và trụ sâu thường đi kèm động mạch tương ứng và hợp lại tạo thành tĩnh mạch cánh tay. Tại vùng nách, tĩnh mạch cánh tay kết hợp với tĩnh mạch nền để tạo thành tĩnh mạch nách, tĩnh mạch nách tiếp tục trở thành tĩnh mạch dưới đòn tại bờ ngoài xương sườn I.
Hệ tĩnh mạch chi trên có chức năng chính là đưa máu từ các mô trở về tim sau khi máu đã thực hiện quá trình trao đổi oxy và chất dinh dưỡng. Hệ tĩnh mạch nông và sâu cùng tham gia vào quá trình hồi lưu này, đồng thời có sự kết nối giữa hai hệ thống thông qua các tĩnh mạch nối. Các van tĩnh mạch ở nhiều đoạn của hệ tĩnh mạch chi trên giúp định hướng dòng máu về tim và hạn chế dòng chảy ngược. Số lượng và vị trí van có thể thay đổi giữa các tĩnh mạch và giữa các cá thể.
Mạch máu chi trên đảm nhiệm vai trò quan trọng trong việc cung cấp máu và duy trì hoạt động bình thường của các mô, cơ và cấu trúc tại chi trên.

Hệ động mạch chi trên có nhiệm vụ vận chuyển máu giàu oxy từ tim đến các mô ở vai, cánh tay, cẳng tay và bàn tay. Máu vận chuyển oxy và nhiều chất dinh dưỡng như glucose, axit amin, vitamin và các chất điện giải đến mô. Tại mạng lưới mao mạch, oxy, chất dinh dưỡng và các chất khác được trao đổi giữa máu và dịch kẽ theo nhu cầu của mô.
Sau khi trao đổi chất tại các mô, máu được thu nhận vào hệ thống tĩnh mạch của chi trên để trở về tim. Máu từ các tĩnh mạch nhỏ dần tập trung vào những tĩnh mạch có kích thước lớn hơn, sau đó đi qua hệ tĩnh mạch nách và dưới đòn trước khi trở về hệ tuần hoàn trung tâm. Quá trình này giúp duy trì tuần hoàn liên tục, bảo đảm máu được đưa trở lại tim để tiếp tục tham gia chu trình tuần hoàn.
Mạch máu còn tham gia điều hòa lượng máu phân phối đến các mô, qua đó góp phần duy trì nhiệt độ và đáp ứng nhu cầu chuyển hóa của cơ thể. Lưu lượng máu tại chi trên có thể thay đổi tùy theo hoạt động của cơ và tình trạng sinh lý. Khi vận động, cơ tăng nhu cầu sử dụng oxy và năng lượng, vì vậy lượng máu đến các cơ hoạt động có thể tăng để đáp ứng nhu cầu này. Ngược lại, lưu lượng máu có thể thay đổi khi cơ thể nghỉ ngơi hoặc trong những điều kiện ảnh hưởng đến tuần hoàn.
Mạch máu chi trên có thể gặp nhiều bất thường và bệnh lý, ảnh hưởng đến lưu thông máu và chức năng của tay.
Hẹp hoặc tắc động mạch chi trên có thể làm giảm lưu lượng máu đến bàn tay và các mô ở chi trên. Trong thiếu máu chi cấp tính, người bệnh có thể xuất hiện đau đột ngột, da tái hoặc thay đổi màu sắc, chi lạnh, giảm hoặc mất mạch, dị cảm và yếu hoặc liệt. Đây là tình trạng cần được đánh giá và xử trí y tế khẩn cấp.

Huyết khối tĩnh mạch chi trên có thể xảy ra ở hệ tĩnh mạch nông hoặc sâu. Huyết khối tĩnh mạch sâu chi trên có thể liên quan đến các tĩnh mạch dưới đòn, nách, cánh tay, quay hoặc trụ và có thể biểu hiện bằng sưng, đau hoặc cảm giác nặng ở tay, một số trường hợp không có triệu chứng rõ ràng.
Chấn thương ở vùng vai, cánh tay, cẳng tay hoặc bàn tay, đặc biệt do vết thương sâu, gãy xương hoặc tổn thương phần mềm nghiêm trọng, có thể gây tổn thương mạch máu. Một số dấu hiệu đáng lưu ý gồm chảy máu nhiều, tụ máu, chi lạnh hoặc tái nhợt, thay đổi màu sắc, giảm hoặc mất mạch, tê hoặc yếu chi.
Giải phẫu mạch máu chi trên gồm hệ thống động mạch, tĩnh mạch và các mạng lưới mạch nhỏ phân bố từ vùng vai đến bàn tay. Mỗi nhóm mạch đảm nhiệm chức năng riêng nhưng phối hợp chặt chẽ để duy trì tuần hoàn máu và nuôi dưỡng các mô. Hiểu rõ đặc điểm của hệ mạch máu chi trên giúp nâng cao kiến thức sức khỏe và hỗ trợ nhận biết những bất thường cần được thăm khám.
Dược sĩ Đại họcNguyễn Vũ Kiều Ngân
Tốt nghiệp Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh. Có nhiều năm trong lĩnh vực dược phẩm. Hiện đang là giảng viên cho Dược sĩ tại Nhà thuốc Long Châu.