Tốt nghiệp Đại Học Dược Hà Nội - chuyên môn Dược lâm sàng. Hiện đang là giảng viên cho Dược sĩ tại Nhà thuốc Long Châu.
Mạnh Khương
17/08/2026
Mặc định
Lớn hơn
Sốt xuất huyết thường khiến người bệnh lo lắng khi thân nhiệt tăng cao, đặc biệt có thể lên 39-40°C trong những ngày đầu. Tuy nhiên, sốt cao không phải yếu tố duy nhất phản ánh mức độ nguy hiểm của bệnh, bởi một số trường hợp có thể chuyển nặng ngay khi nhiệt độ bắt đầu giảm.
Đặc biệt, giai đoạn từ ngày thứ 3 đến thứ 7 của bệnh thường cần được theo dõi sát, nhất là khi người bệnh vừa hạ sốt. Đây là thời điểm có thể xuất hiện tình trạng thoát huyết tương, giảm thể tích tuần hoàn, xuất huyết hoặc sốc, trong khi cảm giác đỡ mệt và thân nhiệt trở về gần bình thường dễ khiến người bệnh chủ quan.
Trong những ngày đầu mắc sốt xuất huyết, người bệnh thường sốt cao đột ngột, có thể lên 39-40°C, kèm đau đầu, đau mỏi cơ thể, đau nhức hai hốc mắt, buồn nôn hoặc nôn. Những biểu hiện này khá giống với nhiều bệnh nhiễm virus cấp tính khác nên dễ khiến người bệnh nghĩ chỉ mắc sốt virus thông thường.

Tuy nhiên, mức nhiệt cao hay thấp không thể được sử dụng đơn độc để đánh giá sốt xuất huyết đang nặng hay nhẹ. Có trường hợp sốt cao liên tục 3-4 ngày rồi bắt đầu giảm, trong khi đau đầu, buồn nôn và mệt mỏi vẫn kéo dài.
Khi thân nhiệt giảm, người bệnh có thể cảm thấy dễ chịu hơn và cho rằng sức khỏe đang cải thiện. Thực tế, đây có thể là thời điểm bệnh bước vào giai đoạn nguy hiểm, đặc biệt từ ngày thứ 3 đến thứ 7, nhưng không phải mọi trường hợp đều diễn tiến nặng.
Vì vậy, người bệnh cần theo dõi diễn biến tổng thể và chú ý các triệu chứng bất thường ngay cả khi đã hạ sốt. Không nên chỉ dựa vào con số trên nhiệt kế để nhận định sốt xuất huyết đang nhẹ hay đã khỏi.
Sốt xuất huyết thường trải qua các giai đoạn khác nhau, trong đó có một giai đoạn nguy hiểm có thể xuất hiện khi người bệnh bắt đầu giảm hoặc hết sốt. Đây cũng là thời điểm rất dễ tạo cảm giác bệnh đang thuyên giảm vì thân nhiệt trở về gần mức bình thường. Tuy nhiên, một số trường hợp vẫn có thể diễn biến nặng dù đã hạ sốt.
Trong giai đoạn này, tình trạng tăng tính thấm thành mạch có thể khiến huyết tương thoát ra ngoài lòng mạch, làm giảm thể tích tuần hoàn và dẫn đến tụt huyết áp hoặc sốc nếu diễn biến nghiêm trọng. Số lượng tiểu cầu cũng có thể giảm, từ đó làm tăng nguy cơ xuất huyết ở một số người bệnh. Vì vậy, hết sốt không đồng nghĩa với việc bệnh đã qua giai đoạn nguy hiểm và người bệnh vẫn cần được theo dõi sát theo hướng dẫn của bác sĩ.

Sau khi nhiệt độ bắt đầu giảm, người bệnh cần chú ý các dấu hiệu như đau bụng nhiều, đặc biệt đau tức vùng gan, nôn nhiều hoặc nôn liên tục. Người bệnh không nên chủ quan chỉ vì thân nhiệt đã trở về gần mức bình thường.
Các biểu hiện chảy máu như chảy máu mũi, chảy máu chân răng, xuất huyết dưới da, nôn ra máu hoặc đi ngoài phân đen cũng cần được đánh giá sớm. Ở phụ nữ, kinh nguyệt bất thường hoặc ra nhiều hơn bình thường cũng là dấu hiệu không nên bỏ qua. Cũng cần lưu ý rằng nhiều trường hợp sốt xuất huyết nặng có thể xảy ra dù chưa xuất hiện biểu hiện chảy máu rõ ràng.
Ngoài ra, mệt lả, bứt rứt, vật vã hoặc li bì, tay chân lạnh, khó thở, tiểu ít hoặc tình trạng sức khỏe xấu đi nhanh sau khi vừa hạ sốt đều cần được đưa đến cơ sở y tế. Người bệnh không nên chờ đến khi sốt trở lại mới đi khám vì sốt xuất huyết vẫn có thể diễn biến nặng dù thân nhiệt đã bình thường.

Nhìn chung, sốt xuất huyết 39-40°C chưa đáng sợ bằng lúc vừa hạ sốt nếu xét về nguy cơ bệnh vẫn có thể chuyển nặng dù thân nhiệt đã giảm. Vì vậy, người bệnh cần tiếp tục theo dõi sát tình trạng sức khỏe sau khi hạ sốt và không nên chủ quan chỉ vì cảm thấy dễ chịu hơn hoặc nhiệt độ cơ thể trở về gần mức bình thường. Việc theo dõi đúng cách và thăm khám khi cần thiết sẽ giúp phát hiện sớm những diễn biến bất thường, góp phần hạn chế nguy cơ biến chứng và hỗ trợ quá trình hồi phục.
:format(webp)/KF_1b_LIQ_Tx_J_Pb27_Vsh90_QN_6b_Xz_OB_Jo_U_f0e2294e2e.png)
Dược sĩ Đại họcNguyễn Chí Chương
Tốt nghiệp Đại Học Dược Hà Nội - chuyên môn Dược lâm sàng. Hiện đang là giảng viên cho Dược sĩ tại Nhà thuốc Long Châu.