22/10/2026
Mặc định
Lớn hơn
Cùng mang vi khuẩn não mô cầu, có người không có triệu chứng, có người chỉ mắc bệnh nhẹ, nhưng cũng có người diễn tiến nặng và tử vong chỉ trong vài giờ. Vì sao cùng một loại vi khuẩn lại gây ra nhiều bệnh cảnh khác nhau như vậy?
Sau khi TPHCM ghi nhận 4 ca não mô cầu, trong đó một ca tử vong, ngày 21/10, Báo Sức khỏe & Đời sống tiếp tục đưa tin về một bệnh nhi mắc bệnh tại xã Thường Tân, thuộc khu vực Bình Dương trước đây. Bệnh nhi đang điều trị tại Bệnh viện Nhi đồng 2, đáp ứng với kháng sinh và sức khỏe ổn định. Các triệu chứng như sốt, đau đầu và cổ gượng đã cải thiện sau điều trị.
Những bệnh cảnh khác nhau này cho thấy bệnh não mô cầu không phải lúc nào cũng có cùng mức độ nghiêm trọng. Theo CDC Hoa Kỳ, vi khuẩn não mô cầu (Neisseria meningitidis) có thể cư trú ở vùng mũi họng mà không gây triệu chứng. Ước tính khoảng 5-10% dân số mang vi khuẩn này tại một thời điểm nhất định nhưng không mắc bệnh, được gọi là tình trạng người lành mang trùng.
Tình trạng mang vi khuẩn không triệu chứng khác với bệnh não mô cầu xâm lấn. Chỉ một tỷ lệ nhỏ người mang vi khuẩn tiến triển thành bệnh xâm lấn, chẳng hạn viêm màng não hoặc nhiễm khuẩn huyết. Tuy nhiên, người lành mang trùng vẫn có khả năng truyền vi khuẩn cho người khác qua dịch tiết đường hô hấp khi tiếp xúc gần hoặc kéo dài.

Nguy cơ mắc bệnh xâm lấn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có đặc điểm của vi khuẩn và khả năng bảo vệ của hệ miễn dịch. Theo CDC Hoa Kỳ, lớp vỏ của vi khuẩn Neisseria meningitidis là một yếu tố giúp vi khuẩn chống lại các cơ chế bảo vệ của cơ thể. Khi vượt qua niêm mạc mũi họng và xâm nhập vào máu, vi khuẩn có thể gây nhiễm khuẩn huyết hoặc tiếp tục đi vào dịch não tủy, gây viêm màng não.
Khả năng chống đỡ với vi khuẩn cũng khác nhau ở mỗi người. Những người bị thiếu hụt thành phần bổ thể, không có lách hoặc suy giảm chức năng lách, nhiễm HIV hay đang sử dụng một số thuốc ức chế bổ thể có nguy cơ mắc bệnh não mô cầu cao hơn. Tuy nhiên, bệnh vẫn có thể xảy ra ở người trước đó khỏe mạnh, không thể chỉ dựa vào thể trạng để đánh giá nguy cơ mắc bệnh.
Khi gây nhiễm khuẩn huyết, não mô cầu có thể dẫn đến rối loạn đông máu, xuất huyết dưới da, sốc và suy đa cơ quan. Bệnh có thể diễn tiến nhanh, đe dọa tính mạng chỉ trong vài giờ. Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc nhận biết triệu chứng và điều trị kịp thời.
Bệnh não mô cầu xâm lấn có thể khởi phát với những triệu chứng tương tự các bệnh thông thường như sốt, đau đầu hoặc mệt mỏi. Tuy nhiên, tình trạng bệnh có thể trở nặng nhanh chóng. Vì vậy, cần đến bệnh viện ngay khi xuất hiện những dấu hiệu nghi ngờ dưới đây.

Nếu nghi ngờ bệnh não mô cầu xâm lấn, đặc biệt khi có rối loạn ý thức, ban xuất huyết hoặc diễn tiến xấu nhanh, cần đưa người bệnh đi cấp cứu ngay. Không chờ xuất hiện ban hay đầy đủ triệu chứng điển hình, vì điều trị sớm có vai trò quan trọng đối với tiên lượng bệnh.
Ở tuổi vị thành niên, trẻ thường giao tiếp rộng hơn và thường xuyên sinh hoạt tập thể, tạo điều kiện cho vi khuẩn não mô cầu lây truyền. Đây cũng là nhóm tuổi thường ghi nhận tỷ lệ người lành mang vi khuẩn cao, nên việc tiêm vắc xin viêm não mô cầu cần được chú trọng.
Những mũi đã tiêm từ nhỏ không đồng nghĩa trẻ được bảo vệ suốt đời trước mọi nhóm vi khuẩn. Khả năng bảo vệ có thể suy giảm theo thời gian, trong khi mỗi loại vắc xin chỉ phòng những nhóm nhất định. Chẳng hạn, vắc xin phòng các nhóm A, C, W, Y không thay thế cho vắc xin phòng nhóm B.
Phụ huynh có thể mang sổ hoặc lịch sử tiêm chủng của con đến trung tâm tiêm chủng Long Châu gần nhất để được rà soát và tư vấn. Việc cần tiêm nhắc lại hay bổ sung loại vắc xin khác sẽ tùy thuộc vào tuổi, loại đã tiêm, số liều, thời điểm tiêm và nguy cơ của trẻ.

Tóm lại, không phải ai mang vi khuẩn não mô cầu cũng mắc bệnh nặng, nhưng vẫn cần cảnh giác vì bệnh có thể diễn tiến nhanh khi vi khuẩn gây nhiễm trùng xâm lấn. Mỗi gia đình nên chủ động tìm hiểu về bệnh và rà soát lịch tiêm chủng. Khi có dấu hiệu nghi ngờ, cần đến cơ sở y tế ngay để được đánh giá và điều trị kịp thời.