Từng làm ở Viện ISDS, nhiều năm cộng tác với CDC Thái Nguyên triển khai dự án phòng chống HIV/AIDS, 2 năm cộng tác với WHO.
Tuệ Nghi
28/01/2026
Mặc định
Lớn hơn
Tiêm thuốc cản quang có ảnh hưởng gì không? Tiêm thuốc cản quang nhìn chung an toàn và ít ảnh hưởng đến sức khỏe, đa số người bệnh không gặp biến chứng nghiêm trọng. Một số tác dụng phụ có thể xảy ra nhưng thường nhẹ, thoáng qua và được kiểm soát tốt tại cơ sở y tế.
Thuốc cản quang được sử dụng phổ biến trong các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh như chụp CT, chụp mạch nhằm giúp bác sĩ quan sát rõ hơn các cơ quan và tổn thương bên trong cơ thể. Việc hiểu đúng về tác dụng, rủi ro và những lưu ý trước - sau khi tiêm thuốc cản quang sẽ giúp người bệnh yên tâm và hợp tác tốt hơn trong quá trình thăm khám.
Thuốc cản quang là chất giúp làm nổi bật hình ảnh cơ quan, mạch máu hoặc tổn thương trên phim chẩn đoán hình ảnh. Thuốc không phải là thuốc điều trị, mà chỉ hỗ trợ chẩn đoán chính xác hơn.
Tiêm thuốc cản quang hầu hết không gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe. Khi được sử dụng đúng chỉ định và theo dõi y tế đầy đủ, lợi ích chẩn đoán thường cao hơn rất nhiều so với nguy cơ tiềm ẩn. Phần lớn người bệnh dung nạp tốt và không gặp biến chứng nguy hiểm.
Theo các hướng dẫn y khoa từ tổ chức uy tín, đa số phản ứng sau tiêm thuốc cản quang là nhẹ và thoáng qua. Các phản ứng nghiêm trọng như sốc phản vệ hay tổn thương thận rất hiếm, thường chỉ xảy ra ở những người có yếu tố nguy cơ cao như:
Vì vậy, với người khỏe mạnh, tiêm thuốc cản quang không làm giảm sức khỏe tổng thể và không ảnh hưởng lâu dài đến tuổi thọ hay chất lượng cuộc sống.

Mặc dù an toàn, tiêm thuốc cản quang vẫn có thể gây ra một số tác dụng phụ. Những phản ứng này được phân loại theo mức độ để người bệnh dễ theo dõi và nhận biết.
Đây là nhóm chiếm đa số trường hợp, xảy ra ở khoảng 3% người dùng thuốc cản quang không ion thế hệ mới:
Các tác dụng phụ này thường xuất hiện ngay hoặc vài phút sau tiêm, tự hết sau vài phút đến vài giờ, không cần điều trị đặc biệt. Đây là phản ứng sinh lý thông thường của cơ thể với thuốc, không nguy hiểm.

Một số trường hợp có thể gặp phản ứng mức độ trung bình, cần can thiệp y tế nhẹ. Cụ thể:
Những phản ứng này đều có phác đồ xử trí sẵn tại cơ sở y tế (như dùng thuốc kháng histamin, oxy hỗ trợ), do đó người bệnh cần ở lại theo dõi sau tiêm theo hướng dẫn.
Tác dụng phụ nghiêm trọng dưới đây rất hiếm gặp (ước tính khoảng 0.04% với thuốc hiện đại), thường ở người có yếu tố nguy cơ:
Hầu hết phản ứng nghiêm trọng xảy ra trong vòng 20 phút đầu sau tiêm.

Việc tiêm thuốc cản quang (thường chứa Iod) là kỹ thuật quan trọng giúp làm rõ hình ảnh mạch máu và các khối u khi chụp CT. Tuy nhiên, vì đây là một loại hóa chất đưa vào cơ thể, bạn cần lưu ý:
Sự chủ động phối hợp của người bệnh đóng vai trò quyết định trong việc giảm thiểu tối đa rủi ro. Để quá trình chẩn đoán diễn ra thuận lợi, bạn cần thực hiện các bước chuẩn bị sau:
Việc khai báo trung thực giúp bác sĩ đánh giá đúng nguy cơ và lựa chọn phương án an toàn nhất như dùng thuốc cản quang khác hoặc điều chỉnh liều.

Sau khi tiêm, dù cơ thể cảm thấy hoàn toàn bình thường, bạn vẫn cần tuân thủ các hướng dẫn dưới đây để đảm bảo thuốc được đào thải an toàn và xử lý kịp thời các phản ứng chậm:

Thông thường, tác dụng phụ của thuốc cản quang sẽ hết nhanh. Tuy nhiên, nếu xuất hiện bất kỳ triệu chứng nào dưới đây, bạn cần quay lại cơ sở y tế gần nhất ngay lập tức để được can thiệp kịp thời:
Tiêm thuốc cản quang là một thủ thuật y khoa phổ biến, cần thiết và an toàn khi được chỉ định đúng và thực hiện tại cơ sở y tế uy tín. Phần lớn tác dụng phụ đều nhẹ, thoáng qua và không để lại ảnh hưởng lâu dài. Việc hiểu rõ các phản ứng có thể gặp và tuân thủ hướng dẫn trước - sau khi tiêm thuốc cản quang sẽ giúp người bệnh yên tâm và đảm bảo an toàn tối đa cho sức khỏe. Nếu bạn có bất kỳ lo lắng nào về tiêm thuốc cản quang có ảnh hưởng gì không, hãy trao đổi trực tiếp với bác sĩ để được tư vấn cá nhân hóa nhé!
Dược sĩ Đại học Nguyễn Tuấn Trịnh
Từng làm ở Viện ISDS, nhiều năm cộng tác với CDC Thái Nguyên triển khai dự án phòng chống HIV/AIDS, 2 năm cộng tác với WHO.