Ứng dụng Nhà Thuốc Long Châu
Siêu ưu đãi, siêu trải nghiệm
Mặc định
Lớn hơn
Tên thuốc gốc (Hoạt chất)
Leuprorelin (Leuprolide)
Loại thuốc
Thuốc tương tự hormon giải phóng gonadotropin.
Dạng thuốc và hàm lượng
Leuprorelin Acetat (Prostap SR, Lucrin, Enantone LP): Bột pha tiêm 3,75 mg + dung môi (1 hoặc 2 ml) hoặc bột pha tiêm 5 mg/ml.
Que cấy dưới da (Staladex) 10,72 mg.
Thuốc Leuprorelin chỉ định dùng trong các trường hợp sau:
Hormon giải phóng gonadotropin (GnRH) là một hormon decapeptid của hạ đồi, có tác dụng điều hòa tổng hợp và tiết hormon kích thích nang trứng (FSH) và hormon tạo hoàng thể (LH). Thuốc Leuprorelin là một dạng tổng hợp của GnRH tự nhiên.
Những thuốc tổng hợp tương tự GnRH có tốc độ thải trừ chậm hơn, độ thanh thải thấp hơn, thời gian bán thải dài hơn và hiệu lực mạnh hơn so với GnRH tự nhiên.
Khi dùng thuốc tương tự GnRH theo kiểu bơm ngắt quãng theo nhịp, thuốc sẽ kích thích tiết gonadotropin, trái lại, khi dùng theo kiểu bơm liên tục, thuốc sẽ ức chế tiết gonadotropin.
Khi bắt đầu dùng ở nam giới, thuốc tương tự GnRH (Leuprorelin) gây tăng nồng độ testosteron trong huyết thanh.
Khi điều trị ung thư tuyến tiền liệt, cần ngăn chặn sự tăng testosteron ban đầu nhất thời này bằng các thuốc kháng androgen, ví dụ như cyproteron, nếu không, sẽ có nguy cơ tăng phát triển ung thư khi bắt đầu điều trị.
Dùng dài hạn và liên tục, thuốc tương tự GnRH có tác dụng ngăn chặn lâu dài việc tiết gonadotropin tuyến yên, và do đó sau 2 đến 4 tuần điều trị nồng độ testosteron trong huyết thanh giảm tới mức như ở nam giới bị hoạn (nghĩa là dưới 50 nanogam/dl). Hậu quả là, các chức năng sinh lý và các mô phụ thuộc testosteron để duy trì trở thành không hoạt động. Các tác dụng này thường phục hồi sau khi ngừng điều trị.
Ở đa số phụ nữ trước tuổi mãn kinh dùng thuốc tương tự GnRH kéo dài liên tục, gây thoái triển khối u đáp ứng với estrogen. Nồng độ estradiol trong huyết thanh giảm tới mức tương tự như ở người sau mãn kinh trong vòng 3 tuần sau khi bắt đầu dùng thuốc. Hậu quả là, các chức năng sinh lý và các mô phụ thuộc steroid tuyến sinh dục (estrogen) để duy trì hoạt động, trở thành không hoạt động. Sau khi ngừng điều trị, nồng độ estradiol, FSH và LH trong huyết thanh thường trở lại mức trước khi điều trị.
Ngoài ra, một số phụ nữ dùng thuốc Leuprorelin không thấy giảm kéo dài LH và FSH.
Ở trẻ em dậy thì sớm do nguyên nhân trung tâm dùng liên tục thuốc tương tự GnRH (nafarelin), nồng độ LH, testosteron và estradiol trong huyết thanh trở lại mức tiền dậy thì, làm mất các đặc tính sinh dục phụ và làm giảm tốc độ phát triển chiều cao và trưởng thành của xương. Sau khi ngừng thuốc, các tác dụng này thường phục hồi.
Thuốc tương tự GnRH được dùng trong điều trị bệnh lạc nội mạc tử cung, chứng vô sinh, thiếu máu do u xơ tử cung (kèm theo bổ sung sắt), ung thư vú, ung thư tuyến tiền liệt, dậy thì sớm. Một số được dùng trong vô sinh.
Thuốc Leuprorelin không có tác dụng khi dùng đường uống. Thuốc được hấp thu tốt qua đường tiêm dưới da hoặc tiêm bắp, liên kết với các thụ thể hormone giải phóng hormone luteinising (LHRH) và nhanh chóng bị phân hủy. Nồng độ cao ban đầu của Leuprorelin acetate trong huyết tương đạt được trong vòng 3 giờ, sau đó giảm xuống mức duy trì trong 7 đến 14 ngày .
Không biết liệu thuốc Leuprorelin có đi qua nhau thai hay được phân bố vào sữa hay không. Thể tích phân bố của Leuprorelin ở nam giới là 36 L (27 L). Liên kết với protein huyết tương của người dao động từ 43% đến 49%.
Thuốc Leuprolide được chuyển hóa chủ yếu bởi peptidase thành các peptit nhỏ hơn không có hoạt tính pentapeptit (Chất chuyển hóa I), tripeptit (Chất chuyển hóa II và III) và dipeptit (Chất chuyển hóa IV). Những chất chuyển hóa này có thể bị dị hóa thêm.
Thời gian bán thải khoảng 3 giờ. Độ thanh thải toàn phần là 139,6 ml/phút. Ít hơn 5% liều dùng được phục hồi dưới dạng chất gốc và chất chuyển hóa chính trong nước tiểu.
Vì điều trị các thuốc kháng androgen có thể kéo dài khoảng QT, việc sử dụng đồng thời thuốc Leuprorelin với các thuốc kéo dài khoảng QT hoặc các thuốc có thể gây ra xoắn đỉnh như thuốc chống loạn nhịp nhóm IA (ví dụ: Quinidine, Disopyramide) hoặc nhóm III (ví dụ: Amiodarone, Sotalol, Dofetilide, Ibutilide), Methadone,Moxifloxacin, thuốc chống loạn thần, v.v ... nên được đánh giá cẩn thận.
Chưa thấy có tương tác thuốc giữa thuốc tương tự GnRH và các thuốc khác.
Leuprorelin chống chỉ định dùng trong các trường hợp sau:
Ung thư tuyến tiền liệt giai đoạn muộn:
Lạc nội mạc tử cung (nữ từ 18 tuổi trở lên):
Ung thư vú giai đoạn cuối: Liều khuyến cáo là 3,75 mg tiêm dưới da mỗi tháng hoặc 11,25 mg mỗi 3 tháng.
Ung thư vú giai đoạn đầu: Liều khuyến cáo là 3,75 mg tiêm dưới da mỗi tháng hoặc 11,25 mg mỗi 3 tháng kết hợp với Tamoxifen hoặc chất ức chế Aromatase.
Dậy thì sớm trung tâm: Leuprorelin Acetat liều 300 microgam/kg cách nhau 4 tuần, cấy trong bắp. Liều điều chỉnh tùy theo đáp ứng.
Liều khởi đầu được khuyến cáo phụ thuộc vào trọng lượng cơ thể.
Trẻ em có trọng lượng cơ thể ≥ 20 kg: 3,75 mg Leuprorelin acetate tiêm dưới da mỗi tháng hoặc 11,25 mg mỗi 3 tháng 1 lần .
Trẻ em có trọng lượng cơ thể < 20 kg:
Trong những trường hợp này, liều lượng nên được sử dụng tùy theo lâm sàng của trẻ dậy thì sớm trung tâm: liều 1,88 mg Leuprorelin Acetate tiêm dưới da mỗi tháng hoặc 5,625 mg mỗi 3 tháng 1 lần.
Người cao tuổi: Liều như người lớn.
To vú đàn ông, triệu chứng sau mãn kinh, loạn năng sinh dục, mất tình dục, bốc hỏa, liệt dương, giảm cương, khí hư, chảy máu, đau ở chỗ tiêm, phù ngoại biên, giảm cảm giác thèm ăn, chức năng gan bất thường.
Phù, đau đầu, chèn ép tủy sống, ngủ lịm, chóng mặt, mất ngủ, nổi ban, buồn nồn, nôn, chán ăn, tiêu chảy, tăng cân, căng/to vú, mất chất xương, đau xương tăng lên, toát mồ hôi, đau cơ, yếu chi dưới, thay đổi tâm trạng.
U tuyến yên.
Thiếu máu, giảm tiểu cầu, giảm bạch cầu, phản ứng quá mẫn, lipid bất thường, dung nạp glucose bất thường, tê liệt, co giật, đánh trống ngực, kéo dài QT, thuyên tắc phổi, tăng huyết áp, hạ huyết áp, vàng da, gãy cột sống, giảm khối lượng xương, bệnh phổi kẽ, tắc nghẽn đường tiết niệu, sốt.
Vì thuốc tương tự GnRH có thể gây độc hại nghiêm trọng cho trẻ bú sữa mẹ, người mẹ phải ngừng cho con bú trước khi dùng thuốc.
Leuprorelin có thể ảnh hưởng đến khả năng lái xe và vận hành máy móc do rối loạn thị giác và chóng mặt.
Thuốc được sử dụng bởi nhân viên y tế (NVYT), bệnh nhân cần tham vấn NVYT nếu nghi ngờ thiếu liều.
Quá liều và độc tính
Không có kinh nghiệm về quá liều trong thử nghiệm lâm sàng.
Trong các nghiên cứu trên động vật, liều lượng lên đến 500 lần so với liều khuyến cáo trên người dẫn đến chứng khó thở, giảm hoạt động và kích ứng cục bộ tại chỗ tiêm .
Cách xử lý khi quá liều Leuprorelin
Trong trường hợp quá liều, bệnh nhân cần được theo dõi chặt chẽ và xử trí triệu chứng và hỗ trợ.
Tên thuốc: Leuprorelin
1) Dược thư Quốc gia Việt Nam 2015
2) EMC: https://www.medicines.org.uk/emc/product/4650/smpc
3) Drugs.com: https://www.drugs.com/monograph/leuprolide.html
Ngày cập nhật: 03/07/2021