Tốt nghiệp Đại học Dược Hà Nội, với hơn 10 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực Dược phẩm. Hiện là giảng viên giảng dạy các môn Dược lý, Dược lâm sàng,...
Tố Uyên
07/01/2026
Mặc định
Lớn hơn
Tổng hợp thông tin chi tiết về đặc điểm, tác dụng và hướng dẫn sử dụng cỏ nến trong điều trị bệnh. Truy cập để nắm vững cách dùng dược liệu chuẩn khoa học.
Cỏ nến là dược liệu với nhiều công dụng điều trị lâm sàng đã được chứng minh trong cả Đông và Tây y. Bài viết này sẽ cung cấp đầy đủ thông tin về đặc điểm nhận dạng, các tác dụng chữa bệnh nổi bật và hướng dẫn cách sử dụng cỏ nến an toàn, hiệu quả.
Cây cỏ nến hay còn gọi là bồ thảo, bồ hoàng, là một loại dược liệu quen thuộc. Tên khoa học của nó là Typha angustata, thuộc họ hương bồ.
Cây cỏ nến là một loại cây thân thảo, cao khoảng 1.5 - 3m. Lá cây mọc từ gốc, dài từ 6 - 15cm và có hình dải. Cây có nhiều hoa mọc dày đặc, hoa hình trụ với lông tơ, dài từ 0.6 - 5.5 cm. Quả của cỏ nến có kích thước nhỏ, hình thoi, giống quả hạch.
Loại cây này thường mọc hoang ở những nơi ẩm ướt và đầm lầy tại Trung Quốc, Ấn Độ và Nhật Bản. Tại Việt Nam, cỏ nến được tìm thấy ở Hà Nội, Lào Cai và ít thấy ở các tỉnh miền Nam.
Phấn hoa cỏ nến được sử dụng làm thuốc, trong Đông y gọi là bồ hoàng và trong Tây y gọi là Pollen Typhae. Hoa cỏ nến thường được thu hoạch vào khoảng tháng 4 đến tháng 6 hàng năm. Khi thu hái, người ta cắt phần trên của hoa đực, sau đó đem phơi khô. Sau khi phơi, hoa được giã nát, nghiền nhỏ, loại bỏ lông tơ và tạp chất, rồi rây lọc để lấy bột, phơi khô và bảo quản để sử dụng sau.

Dược liệu bồ hoàng có dạng bột nhẹ, màu vàng tươi. Khi bào chế, cần bọc ba lần bằng giấy nước cho sắc vàng rồi để yên nửa ngày cho khô. Nếu dùng sống thì không cần bào chế, nhưng nếu dùng chín thì nên sao qua lửa nhỏ. Vì bồ hoàng dễ hút ẩm và có thể sinh ra nấm mốc, nên sau khi bào chế, cần bọc lại trong giấy mỏng, để ở nơi khô ráo và cho vào lọ kín để bảo đảm chất lượng.
Trong y học cổ truyền, cỏ nến có tác dụng cầm máu, hoạt huyết, kháng ứ, tiêu sưng. Nó thường được dùng để điều trị các bệnh như đau bụng kinh, đau do ứ huyết, tiểu ra máu, tiểu khó hoặc tiểu buốt, băng lậu. Trong y học hiện đại, cỏ nến có những tác dụng sau:
Chiết xuất methanol 70% và chiết xuất nước từ phấn hoa cỏ nến đã chứng minh hiệu quả kháng viêm rõ rệt với bệnh phù chân và viêm u hạt do carrageenan gây ra. Bên cạnh đó, chiết xuất methanol từ lá và sợi cây cỏ nến đã được chứng minh có khả năng ức chế nhiều loại vi khuẩn và nấm như Escherichia coli, Pseudomonas aeruginosa, Salmonella typhimurium, Klebsiella pneumoniae và Aspergillus flavus.

Phấn hoa cỏ nến có tác dụng hạ cholesterol máu và hỗ trợ phòng ngừa xơ vữa động mạch thông qua nhiều cơ chế khác nhau. Nghiên cứu cho thấy phấn hoa này giúp giảm cholesterol huyết thanh ở cả bệnh nhân rối loạn lipid máu và những người ăn nhiều dầu mỡ. Đồng thời, nó còn thúc đẩy nội mô mạch máu sản xuất prostaglandin (PGI), một chất có vai trò quan trọng trong việc giãn mạch và chống kết tập tiểu cầu.
Phấn hoa cỏ nến chứa các flavonoid với hoạt tính chống oxy hóa mạnh mẽ, như isorhamnetin-3-O-neohesperidoside (I3ON) và typhaneoside. Những hợp chất này có khả năng thu dọn gốc tự do, giảm mức malondialdehyde (MDA) và nitric oxide (NO), đồng thời làm tăng hoạt động của enzyme superoxide dismutase (SOD) - một enzyme thiết yếu trong việc bảo vệ tế bào khỏi tổn thương do oxy hóa.
Cơ chế chống oxy hóa của các flavonoid này liên quan đến cấu trúc của nhóm hydroxyl và methoxyl, giúp ngăn chặn các gốc tự do gây hại. Do đó, cây cỏ nến không chỉ có khả năng bảo vệ tế bào nội mô khỏi tổn thương do viêm mà còn thể hiện tiềm năng ứng dụng trong việc hỗ trợ điều trị các bệnh lý viêm và stress oxy hóa.

Trong y học cổ truyền Trung Quốc, phấn hoa cỏ nến thường được sử dụng trong bài thuốc Shao Fu Zhu Yu và đã được chứng minh có tác dụng giảm đau rõ rệt. Một nghiên cứu sử dụng các kỹ thuật hiện đại đã tách và xác định các thành phần có hoạt tính sinh học trong bài thuốc này, xác nhận rằng chiết xuất nước từ công thức giúp tăng cường các phản ứng chống đau.
Qua nghiên cứu, các nhà khoa học đã xác định rằng isorhamnetin-3-O-neohesperidoside, typhaneoside cùng với một số flavonoid glycoside là những thành phần chính góp phần vào tác dụng giảm đau của phấn hoa cỏ nến. Kết quả này xác nhận tiềm năng dược lý của phấn hoa cỏ nến và mở ra hướng phát triển thuốc giảm đau từ dược liệu này.
Cỏ nến tươi thường được sử dụng để hoạt huyết, hành ứ, lợi tiểu và điều trị các triệu chứng như kinh nguyệt không đều, đau bụng kinh, đau ngực và tiểu tiện khó khăn. Ngoài ra, khi sao đen, nó có khả năng cầm máu trong các trường hợp như thổ huyết hay chảy máu cam.
Liều dùng thông thường của cỏ nến là từ 5 - 8 gram mỗi ngày, dưới dạng thuốc sắc hoặc bột. Mặc dù nhiều tài liệu cho rằng cần sao đen để có tác dụng cầm máu hiệu quả hơn, nhưng thực tế, dùng dạng tươi vẫn mang lại hiệu quả tốt.
Ngoài các công dụng trong y học, cỏ nến còn có nhiều ứng dụng trong đời sống. Lá và thân cây được dùng để đan chiếu, ghế, làm giấy hoặc làm nhiên liệu sinh khối. Phấn hoa cỏ nến, giàu protein, có thể sử dụng làm phụ gia thực phẩm cho cháo, bánh mì hoặc làm nguyên liệu cho sản xuất pháo hoa.

Rễ cây chứa nhiều tinh bột, có thể ăn sống, luộc hoặc phơi khô, sau đó nghiền thành bột để làm súp, bánh quy hoặc bánh ngọt. Cỏ nến cũng đang được nghiên cứu để xử lý kim loại nặng trong môi trường và hạn chế sự phát triển của cỏ dại nhờ vào hoạt tính allelopathic từ flavonoid.
Hy vọng những chia sẻ vừa rồi đã giúp bạn có cái nhìn gần gũi hơn về cây cỏ nến. Dược liệu quanh ta rất quý, nhưng mọi người nhớ tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi áp dụng để đảm bảo phù hợp với cơ địa. Nếu thấy bài viết hữu ích, đừng quên chia sẻ cho bạn bè và người thân cùng biết.
Dược sĩ Đại họcNguyễn Thanh Hải
Tốt nghiệp Đại học Dược Hà Nội, với hơn 10 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực Dược phẩm. Hiện là giảng viên giảng dạy các môn Dược lý, Dược lâm sàng,...