Dược sĩ Đại học có nhiều năm kinh nghiệm trong việc tư vấn Dược phẩm và hỗ trợ giải đáp thắc mắc về Bệnh học. Hiện đang là giảng viên cho Dược sĩ tại Nhà thuốc Long Châu.
Quỳnh Loan
02/01/2026
Mặc định
Lớn hơn
Đột biến cấu trúc nhiễm sắc thể là dạng bất thường di truyền quan trọng, ảnh hưởng đến sự tăng trưởng và chức năng cơ thể. Việc xác định nguyên nhân và phân loại từng dạng đột biến giúp quá trình tầm soát rủi ro trở nên chính xác hơn, từ đó hỗ trợ lập kế hoạch chăm sóc và can thiệp y khoa một cách chủ động.
Trong cơ thể người, vật liệu di truyền đảm nhiệm vai trò quyết định các đặc điểm sinh học và hoạt động sinh lý. Khi các yếu tố gây hại ảnh hưởng lên tế bào, quá trình phân bào có thể xảy ra sai lệch dẫn đến những biến đổi không mong muốn trong hệ gen. Những biến đổi này có thể tác động đến quá trình phát triển thể chất, sinh sản hoặc hoạt động tế bào và có thể gây ra nhiều rối loạn phức tạp.
Đột biến cấu trúc nhiễm sắc thể là sự thay đổi trong tổ chức gen bên trong một nhiễm sắc thể. Thay đổi này có thể làm tăng hoặc giảm số lượng gen hoặc làm biến đổi vị trí sắp xếp của chúng. Khi cấu trúc bị xáo trộn, hình dạng nhiễm sắc thể sẽ thay đổi, từ đó ảnh hưởng đến việc đọc mã di truyền và biểu hiện tính trạng. Các biến đổi này thường xuất phát từ sự đứt gãy nhiễm sắc thể, sau đó là quá trình nối sai hoặc tái tổ hợp không bình thường.

Đột biến cấu trúc có thể phát sinh bởi nhiều nhóm tác nhân. Một trong những nguyên nhân quan trọng là sự tác động của yếu tố ngoại cảnh.
Tia phóng xạ, tia tử ngoại và sốc nhiệt có thể gây đứt gãy ADN trực tiếp. Bên cạnh đó, các hóa chất gây đột biến cũng có khả năng làm tổn thương sợi nhiễm sắc thể khiến quá trình sửa chữa bị sai lệch.
Các rối loạn sinh hóa bên trong tế bào cũng tạo điều kiện cho đột biến xuất hiện. Rối loạn trong trao đổi chất nội bào có thể dẫn đến lỗi trong quá trình tự nhân đôi của nhiễm sắc thể hoặc gây đứt đoạn không hoàn chỉnh.
Ngoài ra, trao đổi chéo bất thường giữa các Cromatit cũng có thể tạo ra các đoạn gen bị lặp mất hoặc đảo vị trí.
Virus cũng là một yếu tố khác gây đột biến. Một số virus như virus Sarcoma hoặc Herpes có thể chèn ADN vào bộ gen vật chủ làm đứt gãy nhiễm sắc thể. Quá trình xâm nhập này phá vỡ hệ gen bình thường và dẫn đến thay đổi cấu trúc.

Việc hiểu cơ chế hình thành giúp lý giải vì sao các dạng đột biến lại tạo ra hậu quả khác nhau đối với sức khỏe.
Cơ chế đầu tiên là sự đứt đoạn. Khi nhiễm sắc thể đang ở dạng sợi mảnh trước khi xoắn đặc sẽ trở nên dễ bị gãy khi gặp tác nhân đột biến. Đứt đoạn là khởi điểm dẫn đến hàng loạt biến đổi như mất đoạn, lặp đoạn, đảo đoạn hoặc chuyển đoạn.
Cơ chế di truyền xảy ra khi đột biến xuất hiện trong quá trình giảm phân. Giao tử mang nhiễm sắc thể bị đột biến kết hợp với giao tử khác sẽ hình thành hợp tử chứa biến đổi này. Hợp tử phát triển thành cơ thể mang đột biến và biểu hiện đặc điểm thay đổi tùy vào dạng sai lệch.
Những dạng đột biến dưới đây là các hình thái phổ biến có thể gây thay đổi cân bằng di truyền của sinh vật.
Đột biến mất đoạn xảy ra khi một phần nhiễm sắc thể bị đứt gãy và không được nối lại. Đoạn bị mất có thể lớn hoặc nhỏ và có thể xảy ra ở bất kỳ vị trí nào. Việc mất vật liệu di truyền làm giảm số lượng gen dẫn đến rối loạn hoạt động tế bào.
Ở người mất đoạn vai ngắn nhiễm sắc thể số 5 gây hội chứng tiếng mèo kêu. Trẻ mắc hội chứng này thường có tiếng khóc giống mèo, chậm phát triển trí tuệ và bất thường hình thái. Một ví dụ khác là mất đoạn vai dài nhiễm sắc thể số 22 có liên quan đến ung thư máu ác tính.

Đột biến lặp đoạn xảy ra khi một phần của nhiễm sắc thể được nhân lên nhiều lần. Điều này làm tăng số lượng gen dẫn đến dư thừa vật liệu di truyền. Lặp đoạn có thể làm tăng mức độ biểu hiện của một số tính trạng hoặc gây mất cân bằng hệ gen.
Dạng đảo đoạn xuất hiện khi hai điểm trên nhiễm sắc thể bị gãy và đoạn giữa bị đảo hướng 180 độ trước khi gắn lại. Đảo đoạn có thể xuất hiện tại tâm động (đảo đoạn quanh tâm) hoặc tại các vùng không liên quan tâm động (đảo đoạn gần tâm). Thay đổi trình tự gen có thể bất hoạt gen hoặc làm thay đổi mức hoạt động của chúng.
Đột biến chuyển đoạn xảy ra khi một đoạn nhiễm sắc thể được chuyển đến vị trí khác trên cùng nhiễm sắc thể hoặc trao đổi đoạn với nhiễm sắc thể không tương đồng. Các dạng chuyển đoạn gồm:
Một ví dụ điển hình là thể Down do chuyển đoạn Robertson. Trong trường hợp này, một chiếc nhiễm sắc thể 21 chuyển vào nhiễm sắc thể 14. Tổng số nhiễm sắc thể không đổi nhưng cá thể vẫn biểu hiện các đặc điểm như khe mắt xếch, sọ nhỏ, dị tật tim và thiểu năng trí tuệ.
Mỗi dạng đột biến gây ra mức độ ảnh hưởng khác nhau tùy vào số lượng gen bị thay đổi cách sắp xếp gen và khả năng sống của cơ thể mang đột biến.
Mất đoạn làm giảm số lượng gen, gây mất cân bằng hệ gen. Mất đoạn lớn dẫn đến chết phôi hoặc giảm sức sống. Một số mất đoạn nhỏ vẫn có thể gây rối loạn phát triển và bệnh lý nghiêm trọng.
Lặp đoạn làm tăng số lượng gen khiến mức độ biểu hiện tính trạng tăng hoặc giảm thất thường. Điều này có thể ảnh hưởng đến sinh trưởng đặc điểm cơ thể và khả năng sinh sản.
Đảo đoạn không làm thay đổi số lượng gen nhưng thay đổi vị trí có thể bất hoạt gen hoặc thay đổi mức hoạt động của gen. Người mang đảo đoạn dị hợp có thể giảm khả năng sinh sản do hình thành giao tử bất thường.

Chuyển đoạn có thể làm thay đổi nhóm gen liên kết. Chuyển đoạn nhỏ thường ít ảnh hưởng đến sức sống nhưng chuyển đoạn lớn có thể gây giảm khả năng sinh sản hoặc dẫn tới rối loạn phát triển khi truyền sang thế hệ sau.
Đột biến cấu trúc nhiễm sắc thể là một nhóm biến đổi di truyền gây ảnh hưởng lớn đến sự phát triển và khả năng sống của sinh vật. Việc hiểu bản chất cơ chế và các dạng đột biến giúp nhận diện nguy cơ sớm hơn và hỗ trợ hiệu quả trong chăm sóc sức khỏe. Kiến thức này đặc biệt quan trọng trong di truyền học, lâm sàng sàng lọc trước sinh và tư vấn di truyền.
Dược sĩ Đại họcNguyễn Mỹ Huyền
Dược sĩ Đại học có nhiều năm kinh nghiệm trong việc tư vấn Dược phẩm và hỗ trợ giải đáp thắc mắc về Bệnh học. Hiện đang là giảng viên cho Dược sĩ tại Nhà thuốc Long Châu.