Tốt nghiệp Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh. Có nhiều năm trong lĩnh vực dược phẩm. Hiện đang là giảng viên cho Dược sĩ tại Nhà thuốc Long Châu.
Thanh Hương
30/09/2026
Mặc định
Lớn hơn
Sốc phản vệ là phản ứng dị ứng nghiêm trọng, có thể diễn tiến nhanh và đe dọa tính mạng. Ngay cả khi đã được cấp cứu kịp thời, người bệnh vẫn cần được theo dõi để phát hiện sớm biến chứng sau sốc phản vệ và xử trí phù hợp.
Sau khi vượt qua sốc phản vệ, người bệnh chưa nên chủ quan vì một số vấn đề sức khỏe có thể xuất hiện trong quá trình hồi phục. Hiểu rõ biến chứng sau sốc phản vệ, dấu hiệu cảnh báo và cách xử trí giúp người bệnh chủ động theo dõi sức khỏe, giảm nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe.
Sốc phản vệ là tình trạng phản ứng quá mẫn toàn thân, thường khởi phát nhanh và có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đường thở, hô hấp và tuần hoàn. Nếu không được xử trí kịp thời, sốc phản vệ có thể tiến triển nhanh, gây tụt huyết áp, suy hô hấp, mất ý thức và đe dọa tính mạng. Các tác nhân thường liên quan đến phản vệ gồm thuốc, thực phẩm, nọc độc côn trùng, latex và một số yếu tố khác.
Người bệnh cần được cấp cứu càng sớm càng tốt và tiếp tục theo dõi y tế theo chỉ định, ngay cả khi các triệu chứng ban đầu đã thuyên giảm. Việc hết triệu chứng không đồng nghĩa với tình trạng đã hoàn toàn ổn định. Sau phản vệ nặng, đặc biệt khi có tụt huyết áp kéo dài, suy hô hấp hoặc ngừng tuần hoàn, người bệnh có thể gặp các biến chứng liên quan đến thiếu oxy, giảm tưới máu hoặc tổn thương cơ quan. Tuy nhiên, nguy cơ và mức độ ảnh hưởng phụ thuộc vào mức độ phản vệ và đáp ứng với điều trị. Vì vậy, việc theo dõi sau cấp cứu đóng vai trò quan trọng trong phát hiện sớm bất thường và xử trí kịp thời nếu phản ứng tái diễn.

Sau sốc phản vệ, người bệnh có thể gặp một số biến chứng do tình trạng suy hô hấp, tụt huyết áp hoặc tổn thương các cơ quan trong cơ thể.
Phản vệ có thể gây phù nề đường thở, co thắt phế quản và suy hô hấp. Sau cấp cứu, nếu khó thở, khò khè, nghẹn hoặc thắt chặt vùng họng, khàn tiếng, khó nói xuất hiện trở lại hoặc kéo dài, cần được đánh giá ngay vì có thể là biểu hiện phản vệ chưa được kiểm soát hoàn toàn hoặc phản vệ tái diễn.
Ở phản vệ nặng, tụt huyết áp kéo dài có thể làm giảm tưới máu các cơ quan. Một số người bệnh có thể xuất hiện rối loạn nhịp, tổn thương cơ tim hoặc ngừng tuần hoàn, đặc biệt khi phản vệ gây suy tuần hoàn nghiêm trọng. Sau cấp cứu, người bệnh cần chú ý các biểu hiện như chóng mặt, choáng váng, mệt lả, lạnh đầu chi, huyết áp thấp, đau ngực hoặc hồi hộp bất thường.
Trong trường hợp sốc phản vệ gây tụt huyết áp nghiêm trọng hoặc ngừng tuần hoàn, não có thể bị thiếu oxy hoặc giảm tưới máu. Mức độ ảnh hưởng phụ thuộc vào mức độ và thời gian thiếu oxy, cũng như hiệu quả của quá trình hồi sức. Sau một tình trạng phản vệ nặng, người bệnh có thể xuất hiện các biểu hiện thần kinh như lú lẫn, rối loạn ý thức hoặc co giật.
Trong phản vệ nguy kịch có tụt huyết áp nghiêm trọng hoặc ngừng tuần hoàn, não có thể bị giảm tưới máu và thiếu oxy não. Nếu tình trạng này kéo dài, người bệnh có nguy cơ tổn thương thần kinh.

Trong phản vệ nặng có tụt huyết áp kéo dài, giảm tưới máu thận và các cơ quan khác có thể xảy ra, từ đó làm tăng nguy cơ tổn thương cơ quan. Tùy mức độ phản vệ, bác sĩ có thể theo dõi huyết áp, lượng nước tiểu và chỉ định các xét nghiệm đánh giá chức năng cơ quan khi cần thiết.
Phản vệ hai pha là tình trạng các triệu chứng phản vệ xuất hiện trở lại sau khi phản ứng ban đầu đã cải thiện hoặc hết, trong khi người bệnh không tiếp xúc thêm với dị nguyên. Các triệu chứng tái diễn có thể ảnh hưởng đến da, đường thở, hô hấp, tiêu hóa hoặc tuần hoàn và mức độ có thể khác nhau. Cần phân biệt phản vệ hai pha với phản vệ kéo dài hoặc tình trạng tiếp tục hấp thu dị nguyên.
Sau khi qua cơn sốc phản vệ, người bệnh vẫn cần được xử trí và theo dõi y tế để phát hiện sớm phản ứng tái phát hoặc biến chứng.
Thời gian theo dõi sau phản vệ cần được quyết định dựa trên mức độ phản ứng, đáp ứng với adrenaline, nguy cơ tái diễn và tình trạng lâm sàng. Theo hướng dẫn của Bộ Y tế Việt Nam tại Thông tư 51/2017/TT-BYT, người bệnh phản vệ cần được theo dõi liên tục ít nhất 24 giờ. Trong thực hành, thời gian và mức độ theo dõi có thể được điều chỉnh theo tình trạng cụ thể và đánh giá của bác sĩ.

Việc điều trị sau sốc phản vệ được thực hiện dựa trên biểu hiện lâm sàng và mức độ ảnh hưởng đến từng cơ quan. Người bệnh có thể được hỗ trợ đường thở, oxy hoặc các biện pháp hỗ trợ hô hấp khi cần thiết. Các chỉ số như huyết áp, mạch, độ bão hòa oxy trong máu (chỉ số SpO₂) và tình trạng ý thức có thể được theo dõi để đánh giá đáp ứng điều trị.
Khi phản vệ gây tụt huyết áp hoặc sốc, adrenaline là thuốc điều trị quan trọng hàng đầu. Bác sĩ có thể đồng thời truyền dịch tinh thể và thực hiện các biện pháp hồi sức khác tùy mức độ đáp ứng và tình trạng người bệnh. Nếu xuất hiện vấn đề về hô hấp, tim mạch hoặc tổn thương cơ quan, người bệnh sẽ được điều trị theo nguyên nhân và mức độ cụ thể.
Sau khi được bác sĩ đánh giá và cho phép xuất viện, người bệnh cần tuân thủ hướng dẫn điều trị, theo dõi các dấu hiệu phản vệ tái diễn và thực hiện kế hoạch phòng ngừa tái tiếp xúc với dị nguyên nếu đã xác định được nguyên nhân. Tùy trường hợp, bác sĩ có thể chỉ định đánh giá chuyên khoa dị ứng để xác định tác nhân và hướng dẫn phòng ngừa các lần phản vệ tiếp theo.
Nếu xuất hiện trở lại các dấu hiệu nghi ngờ phản vệ như khó thở, khò khè, sưng môi hoặc lưỡi, nghẹn họng, chóng mặt, ngất hoặc tụt huyết áp, cần gọi cấp cứu ngay và thực hiện thuốc adrenaline tự tiêm nếu đã được bác sĩ kê và hướng dẫn sử dụng.

Biến chứng sau sốc phản vệ có thể ảnh hưởng đến nhiều cơ quan và đôi khi xuất hiện sau khi các triệu chứng ban đầu đã thuyên giảm. Người bệnh cần tuân thủ hướng dẫn theo dõi, điều trị của nhân viên y tế và tái khám khi có dấu hiệu bất thường. Việc xác định nguyên nhân gây phản vệ cũng giúp chủ động phòng tránh những lần phản ứng tiếp theo.
Dược sĩ Đại họcNguyễn Vũ Kiều Ngân
Tốt nghiệp Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh. Có nhiều năm trong lĩnh vực dược phẩm. Hiện đang là giảng viên cho Dược sĩ tại Nhà thuốc Long Châu.