Hồng Ngọc
07/09/2026
Mặc định
Lớn hơn
Phế cầu khuẩn có thể gây viêm phổi, viêm màng não, nhiễm khuẩn huyết và nhiều bệnh lý nghiêm trọng ở trẻ nhỏ. Trong bối cảnh tình trạng kháng kháng sinh gia tăng và các túyp phế cầu liên tục biến đổi, chủ động phòng ngừa từ sớm càng trở nên quan trọng.
Phế cầu khuẩn (Streptococcus pneumoniae) có thể tồn tại ở vùng mũi họng mà không gây triệu chứng, kể cả ở trẻ khỏe mạnh. Khi gặp điều kiện thuận lợi hoặc sức đề kháng suy giảm, vi khuẩn có thể gây nhiều bệnh nhiễm trùng, thậm chí bệnh lý nghiêm trọng như:
Trẻ nhỏ, đặc biệt dưới 2 tuổi, có nguy cơ cao do hệ miễn dịch chưa hoàn thiện. Tại Bệnh viện Nhi Trung ương, một nghiên cứu ở trẻ nhập viện do bệnh phế cầu xâm lấn ghi nhận khoảng 8,8% trường hợp không qua khỏi, cho thấy bệnh có thể diễn tiến nghiêm trọng và đe dọa tính mạng.

Nếu trước đây nhiều trường hợp nhiễm phế cầu có thể đáp ứng tương đối tốt với các kháng sinh thông thường, thì hiện nay việc điều trị một số bệnh cảnh đã trở nên phức tạp hơn do vi khuẩn đề kháng với nhiều nhóm kháng sinh. Khi thuốc không còn đạt hiệu quả như mong đợi, việc lựa chọn kháng sinh phù hợp có thể khó khăn hơn.
Tại một số khu vực trên thế giới, tỷ lệ chủng phế cầu kháng penicillin từng tăng từ 1% hoặc thấp hơn lên 20 - 60%. Các chủng kháng thuốc mức độ cao cũng đã được ghi nhận liên quan đến nhiều trường hợp thất bại điều trị, đặc biệt ở bệnh nhân viêm màng não.
Hiện nay, phế cầu kháng ít nhất một loại kháng sinh liên quan đến khoảng 2/5 số ca nhiễm trùng do S. pneumoniae. Tình trạng này đặc biệt đáng lưu ý bởi phế cầu có thể gây những bệnh nghiêm trọng. Việc sử dụng kháng sinh không hợp lý cũng góp phần thúc đẩy sự xuất hiện và lan rộng của các chủng vi khuẩn kháng thuốc.

Bên cạnh kháng thuốc, sự đa dạng của phế cầu cũng đặt ra thách thức cho công tác phòng bệnh. Thế giới đã ghi nhận hơn 100 tuýp huyết thanh, trong đó một số tuýp liên quan nhiều hơn đến bệnh phế cầu xâm lấn.
Tại Việt Nam, các nghiên cứu về tình trạng mang phế cầu ở vùng hầu họng trẻ em đã ghi nhận các tuýp 6A, 6B, 19F, 19A và 23F. Dữ liệu tại 10 bệnh viện trên cả nước giai đoạn 2011 - 2023 cũng ghi nhận sự hiện diện của 11A/11D, 15A/15B/15C và 23A.
Trong bối cảnh kháng thuốc kháng sinh gia tăng và các tuýp huyết thanh lưu hành có thể thay đổi, theo dõi dịch tễ và chủ động dự phòng đóng vai trò quan trọng trong giảm gánh nặng bệnh do phế cầu.
Một nghiên cứu ghi nhận khoảng 58% trẻ khỏe mạnh dưới 3 tuổi mang phế cầu khuẩn ở vùng hầu họng mà không có triệu chứng. Vì vậy, phòng ngừa cần được chú trọng ngay cả khi trẻ đang khỏe mạnh:

Trong bối cảnh phế cầu kháng thuốc làm gia tăng thách thức trong điều trị bệnh, phòng bệnh từ sớm không chỉ giúp bảo vệ trẻ mà còn góp phần giảm nhu cầu sử dụng kháng sinh và gánh nặng bệnh phế cầu trong cộng đồng.