Tốt nghiệp Khoa Dược trường Đại học Nam Cần Thơ. Có nhiều năm kinh nghiệm công tác trong lĩnh vực Dược phẩm. Hiện đang giảng viên cho Dược sĩ tại Nhà thuốc Long Châu.
Tuyết Vĩ
18/08/2026
Mặc định
Lớn hơn
Nhiều người thắc mắc ra nhiều mồ hôi là bệnh gì vì lo sợ đây là triệu chứng của các bệnh lý nghiêm trọng. Bài viết này sẽ cung cấp thông tin chi tiết về các nguyên nhân, phương pháp điều trị và cách phòng ngừa tình trạng đổ mồ hôi nhiều.
Đổ mồ hôi là một hiện tượng tự nhiên giúp cơ thể điều hòa nhiệt độ. Tuy nhiên, ra nhiều mồ hôi có thể là dấu hiệu của một số vấn đề sức khỏe tiềm ẩn. Vậy ra nhiều mồ hôi là bệnh gì?
Ra nhiều mồ hôi có thể là đáp ứng sinh lý bình thường khi cơ thể nóng, vận động hoặc căng thẳng. Tuy nhiên, nếu mồ hôi tiết ra quá mức, tái diễn hoặc xuất hiện không phù hợp với nhiệt độ và mức độ hoạt động, tình trạng này có thể liên quan đến tăng tiết mồ hôi nguyên phát hoặc là biểu hiện thứ phát của một số bệnh lý, thuốc và tình trạng sức khỏe khác.
Tăng tiết mồ hôi nguyên phát thường gây ra tình trạng đổ mồ hôi quá mức, chủ yếu ở các vùng như lòng bàn tay, lòng bàn chân, nách, mặt hoặc đầu, mà không phải do một bệnh lý toàn thân hay yếu tố bên ngoài gây ra. Cơ chế bệnh sinh chưa được hiểu hoàn toàn, nhưng có liên quan đến sự điều hòa bất thường của hệ thần kinh đối với hoạt động của tuyến mồ hôi, trong đó hoạt động cholinergic của tuyến mồ hôi đóng vai trò quan trọng.
Ở người bệnh đái tháo đường, hạ đường huyết có thể gây vã mồ hôi, run, đói, tim đập nhanh, chóng mặt, yếu hoặc lú lẫn. Hạ đường huyết thường liên quan đến việc sử dụng insulin hoặc một số thuốc hạ đường huyết và cần được xử trí kịp thời khi xảy ra.
Ngoài ra, tổn thương thần kinh tự chủ do đái tháo đường có thể ảnh hưởng đến chức năng của các tuyến mồ hôi, dẫn đến thay đổi kiểu tiết mồ hôi.
Cường giáp làm tăng hoạt động chuyển hóa của cơ thể và có thể gây tăng tiết mồ hôi, nhạy cảm với nóng, sụt cân không chủ ý, run tay, tim đập nhanh hoặc rối loạn nhịp tim.
Ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn có thể liên quan đến đổ mồ hôi ban đêm. Tuy nhiên, đổ mồ hôi ban đêm không phải là triệu chứng đặc hiệu của bệnh này và cần xem xét cùng các biểu hiện khác như ngáy to, ngừng thở khi ngủ, thức giấc nhiều lần hoặc buồn ngủ ban ngày.

Đổ mồ hôi ban đêm kéo dài, đặc biệt khi kèm sốt, sụt cân không chủ ý hoặc nổi hạch, có thể gặp trong lymphoma và một số bệnh lý khác. Tuy nhiên, triệu chứng này không đặc hiệu và đa số trường hợp không phải do ung thư. Những triệu chứng khác có thể bao gồm sưng hạch bạch huyết, sụt cân, đau ngực và khó thở.
Bệnh lao và một số trường hợp viêm xương hoặc nhiễm trùng do vi khuẩn, như viêm nội tâm mạc, có thể gây ra hiện tượng đổ mồ hôi nhiều, đặc biệt vào ban đêm.
Nhiều loại thuốc, bao gồm thuốc giảm đau, thuốc điều trị tim, huyết áp và các thuốc chống trầm cảm, có thể gây ra tác dụng phụ là đổ mồ hôi nhiều.
Đổ mồ hôi nhiều có thể do các yếu tố như căng thẳng tâm lý, ăn nhiều đồ cay nóng, các bệnh lý liên quan đến hệ thần kinh giao cảm, mang thai hoặc giai đoạn mãn kinh.
Cách điều trị đổ mồ hôi nhiều phụ thuộc vào nguyên nhân gây ra tình trạng này:

Chất khử mùi (deodorant) chủ yếu giúp kiểm soát mùi cơ thể, trong khi chất chống tiết mồ hôi (antiperspirant) có thể làm giảm lượng mồ hôi đến bề mặt da. Một số sản phẩm chống tiết mồ hôi chứa muối nhôm, chẳng hạn aluminum chloride, có thể được sử dụng để kiểm soát tăng tiết mồ hôi. Với các chế phẩm aluminium chloride điều trị tăng tiết mồ hôi, thường cần bôi lên vùng da khô trước khi đi ngủ và rửa sạch vào buổi sáng. Cách sử dụng cụ thể phụ thuộc vào nồng độ và sản phẩm.
Uống đủ nước mỗi ngày là cách đơn giản nhưng hiệu quả để điều hòa nhiệt độ cơ thể và giảm tiết mồ hôi. Khi cơ thể thiếu nước, nó sẽ phản ứng bằng cách tiết nhiều mồ hôi hơn để cố gắng làm mát. Duy trì đủ nước, đặc biệt khi thời tiết nóng hoặc hoạt động thể lực, giúp bù lượng dịch mất qua mồ hôi. Nhu cầu nước thay đổi tùy từng người và mức độ hoạt động.

Một số thảo dược và chế phẩm y học cổ truyền đã được nghiên cứu với mục đích hỗ trợ kiểm soát tình trạng tăng tiết mồ hôi. Tuy nhiên, bằng chứng lâm sàng hiện còn hạn chế và chưa đủ nhất quán để khẳng định hiệu quả của các thảo dược như bạch thược, thiên môn đông hoặc sơn thù trong điều trị tăng tiết mồ hôi.
Do đó, không nên tự sử dụng các thảo dược này với mục đích điều trị tăng tiết mồ hôi hoặc thay thế các phương pháp điều trị đã được chứng minh hiệu quả. Nếu muốn sử dụng thuốc hoặc chế phẩm từ thảo dược, người bệnh nên trao đổi với bác sĩ hoặc nhân viên y tế, đặc biệt khi đang mắc bệnh nền hoặc sử dụng các thuốc khác, để đánh giá tính phù hợp, nguy cơ tương tác và tác dụng không mong muốn.
Châm cứu và xoa bóp có thể được sử dụng như biện pháp hỗ trợ thư giãn và giảm căng thẳng. Tuy nhiên, hiện chưa có đủ bằng chứng lâm sàng chất lượng cao để khẳng định châm cứu hoặc xoa bóp có hiệu quả trong điều trị tăng tiết mồ hôi hoặc có tác dụng điều hòa hệ thần kinh giao cảm theo cách được mô tả.
Nếu người bệnh muốn áp dụng các phương pháp này, nên thực hiện tại cơ sở phù hợp và bởi người có chuyên môn. Châm cứu không nên được sử dụng để thay thế các phương pháp điều trị tăng tiết mồ hôi đã được chứng minh hiệu quả.
Lối sống và thói quen ăn uống cũng ảnh hưởng đáng kể đến tình trạng ra nhiều mồ hôi. Do đó, để phòng ngừa, bạn có thể thực hiện như sau:

Căng thẳng và lo âu có thể kích thích hệ thần kinh giao cảm, gây ra sự gia tăng tiết mồ hôi. Các biện pháp quản lý căng thẳng như thiền, yoga, hít thở sâu và tham gia các hoạt động giải trí có thể giúp bạn giảm bớt căng thẳng và kiểm soát mồ hôi tốt hơn.
Đổ mồ hôi bất thường có thể liên quan đến nhiều nguyên nhân, bao gồm hạ đường huyết, cường giáp, nhiễm trùng, bệnh lý thần kinh tự chủ, tác dụng phụ của thuốc và một số bệnh lý khác. Đổ mồ hôi ban đêm kéo dài kèm sốt, sụt cân không chủ ý hoặc nổi hạch cần được đánh giá y tế để xác định nguyên nhân. Nếu bạn gặp tình trạng này thường xuyên hoặc mồ hôi tiết ra quá nhiều mà không rõ nguyên nhân, hãy đến bệnh viện để được chẩn đoán chính xác. Các bác sĩ có thể thực hiện các xét nghiệm cần thiết để xác định nguyên nhân gây đổ mồ hôi và đưa ra phương pháp điều trị phù hợp.
Nếu đau đầu hoặc đau nhẹ là triệu chứng chính và không có các dấu hiệu cảnh báo, người bệnh có thể sử dụng thuốc giảm đau không kê đơn phù hợp, chẳng hạn paracetamol, theo đúng liều dùng và hướng dẫn trên nhãn thuốc. Không nên tự ý sử dụng thuốc giảm đau kéo dài hoặc vượt quá liều khuyến cáo.
Thuốc giảm đau chỉ giúp giảm triệu chứng đau và không điều trị nguyên nhân gây chóng mặt, buồn nôn, bủn rủn tay chân hoặc khó thở. Nếu đau đầu xuất hiện đột ngột và dữ dội, đau đầu sau chấn thương, hoặc kèm yếu/tê một bên cơ thể, nói khó, lú lẫn, ngất, đau hoặc tức ngực, khó thở nhiều hay các triệu chứng bất thường khác, người bệnh cần được đánh giá y tế khẩn cấp thay vì chỉ tự dùng thuốc giảm đau.
Tóm lại ra nhiều mồ hôi là bệnh gì? Ra nhiều mồ hôi không phải lúc nào cũng là dấu hiệu của bệnh. Đổ mồ hôi khi vận động, thời tiết nóng hoặc căng thẳng có thể là đáp ứng sinh lý bình thường. Khi mồ hôi tiết ra quá mức, ảnh hưởng đến sinh hoạt hoặc xuất hiện bất thường, cần phân biệt tăng tiết mồ hôi nguyên phát với tăng tiết mồ hôi thứ phát do thuốc hoặc các bệnh lý như hạ đường huyết, cường giáp, nhiễm trùng, bệnh lý thần kinh tự chủ và một số bệnh lý khác.
Đặc biệt, đổ mồ hôi ban đêm kéo dài kèm sốt, sụt cân không chủ ý, nổi hạch hoặc các triệu chứng bất thường khác cần được đánh giá y tế để xác định nguyên nhân. Điều trị phụ thuộc vào nguyên nhân và mức độ bệnh; đối với tăng tiết mồ hôi nguyên phát, antiperspirant chứa muối nhôm, iontophoresis, botulinum toxin và một số thuốc là các lựa chọn được sử dụng, trong khi phẫu thuật chỉ dành cho trường hợp chọn lọc sau khi các phương pháp khác không hiệu quả.
Xem thêm:
Dược sĩ Đại họcNguyễn Thị Thảo Nguyên
Tốt nghiệp Khoa Dược trường Đại học Nam Cần Thơ. Có nhiều năm kinh nghiệm công tác trong lĩnh vực Dược phẩm. Hiện đang giảng viên cho Dược sĩ tại Nhà thuốc Long Châu.