Tốt nghiệp Đại học Dược Hà Nội, với hơn 10 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực Dược phẩm. Hiện là giảng viên giảng dạy các môn Dược lý, Dược lâm sàng,...
:format(webp)/hoi_chung_tan_mau_tang_ure_huyet_khong_dien_hinh_3_8af41bb508.png)
:format(webp)/hoi_chung_tan_mau_tang_ure_huyet_khong_dien_hinh_3_8af41bb508.png)
Dược sĩ Đại họcNguyễn Thanh Hải
Tốt nghiệp Đại học Dược Hà Nội, với hơn 10 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực Dược phẩm. Hiện là giảng viên giảng dạy các môn Dược lý, Dược lâm sàng,...
Hội chứng tan máu-tăng ure huyết không điển hình là một bệnh lý di truyền hiếm gặp, đặc trưng bởi sự hình thành các huyết khối trong hệ vi mạch. Tình trạng này gây ra thiếu máu tán huyết, giảm tiểu cầu và tổn thương chức năng thận tiến triển nặng nếu không được chẩn đoán và can thiệp y tế kịp thời.
Hội chứng tan máu-tăng urê huyết không điển hình (atypical hemolytic uremic syndrome, aHUS) là một bệnh lý hiếm gặp nhưng có khả năng đe dọa tính mạng, thuộc nhóm bệnh lý huyết khối vi mạch. Bệnh đặc trưng bởi tình trạng hoạt hóa không kiểm soát của hệ thống bổ thể, gây tổn thương tế bào nội mô và hình thành các huyết khối trong hệ vi tuần hoàn. Hậu quả là người bệnh xuất hiện thiếu máu tán huyết vi mạch, giảm tiểu cầu và tổn thương chức năng nhiều cơ quan, trong đó thận là cơ quan bị ảnh hưởng nặng nề nhất với biểu hiện thường gặp là tổn thương thận cấp.
aHUS có thể khởi phát ở bất kỳ lứa tuổi nào, từ trẻ nhỏ đến người trưởng thành. Khác với hội chứng tan máu-tăng urê huyết điển hình thường liên quan đến nhiễm vi khuẩn sinh độc tố Shiga như Escherichia coli, aHUS chủ yếu bắt nguồn từ rối loạn điều hòa con đường bổ thể thay thế do đột biến gen hoặc sự xuất hiện của tự kháng thể chống các yếu tố điều hòa bổ thể. Bệnh thường diễn tiến phức tạp, có nguy cơ tái phát cao và đòi hỏi được theo dõi, điều trị chuyên khoa lâu dài nhằm hạn chế tổn thương thận không hồi phục cũng như các biến chứng toàn thân.
:format(webp)/hoi_chung_tan_mau_tang_ure_huyet_khong_dien_hinh_7_ed233f5912.png)
:format(webp)/hoi_chung_tan_mau_tang_ure_huyet_khong_dien_hinh_1_aa7d8866e4.png)
:format(webp)/hoi_chung_tan_mau_tang_ure_huyet_khong_dien_hinh_3_8af41bb508.png)
:format(webp)/hoi_chung_tan_mau_tang_ure_huyet_khong_dien_hinh_7_ed233f5912.png)
:format(webp)/hoi_chung_tan_mau_tang_ure_huyet_khong_dien_hinh_1_aa7d8866e4.png)
:format(webp)/hoi_chung_tan_mau_tang_ure_huyet_khong_dien_hinh_3_8af41bb508.png)
Biểu hiện lâm sàng của hội chứng tan máu-tăng urê huyết không điển hình (aHUS) rất đa dạng, phản ánh tình trạng huyết khối vi mạch lan tỏa và tổn thương nội mô do hoạt hóa bổ thể không kiểm soát. Người bệnh thường xuất hiện với tam chứng đặc trưng gồm thiếu máu tán huyết vi mạch, giảm tiểu cầu và tổn thương thận cấp; ngoài ra có thể kèm theo tổn thương nhiều cơ quan khác.

Hội chứng tan máu-tăng urê huyết không điển hình (aHUS) là bệnh lý huyết khối vi mạch toàn thân có thể gây nhiều biến chứng nặng nề, trong đó thận là cơ quan bị ảnh hưởng nghiêm trọng nhất. Người bệnh dễ xuất hiện tổn thương thận cấp với thiểu niệu, vô niệu, tăng urê-creatinin máu và có nguy cơ tiến triển thành suy thận mạn hoặc suy thận giai đoạn cuối nếu điều trị chậm trễ.
Ngoài ra, tình trạng tan máu và tiêu thụ tiểu cầu kéo dài có thể gây thiếu máu nặng, chảy máu dưới da hoặc niêm mạc. Huyết khối vi mạch còn có thể ảnh hưởng đến các cơ quan khác như não, tim, phổi và hệ tiêu hóa, gây co giật, rối loạn tri giác, tăng huyết áp, suy tim, khó thở hoặc đau bụng. Bệnh có xu hướng tái phát nhiều đợt, làm suy giảm dần chức năng thận và tăng nguy cơ tử vong nếu không được chẩn đoán và điều trị kịp thời.
aHUS là bệnh lý có thể tiến triển nhanh và gây tổn thương đa cơ quan, vì vậy người bệnh cần được đánh giá y khoa khẩn cấp khi xuất hiện các dấu hiệu sau:
Cơ chế bệnh sinh cốt lõi của hội chứng này xuất phát từ sự rối loạn điều hòa của hệ thống bổ thể thay thế, một thành phần quan trọng của hệ miễn dịch bẩm sinh. Ở người bình thường, hoạt động của hệ thống này được kiểm soát chặt chẽ bởi nhiều protein điều hòa nhằm bảo vệ tế bào nội mô mạch máu khỏi bị tổn thương.
Ở bệnh nhân aHUS, do đột biến gen liên quan đến các yếu tố điều hòa bổ thể hoặc do sự xuất hiện của tự kháng thể kháng các protein kiểm soát bổ thể, quá trình hoạt hóa bổ thể trở nên kéo dài và mất kiểm soát. Hậu quả là tế bào nội mô bị tổn thương, tiểu cầu bị hoạt hóa và các huyết khối vi mạch hình thành trong lòng mạch nhỏ, gây nên tình trạng tan máu, giảm tiểu cầu và thiếu máu nuôi cơ quan, đặc biệt tại thận.
Mặc dù người bệnh có sẵn yếu tố nền về di truyền hoặc miễn dịch, aHUS thường chỉ bùng phát khi có thêm yếu tố khởi phát như nhiễm trùng, thai kỳ, phẫu thuật, ghép tạng hoặc sử dụng một số thuốc. Những yếu tố này làm hoạt hóa bổ thể mạnh hơn và thúc đẩy xuất hiện đợt bệnh cấp tính.
aHUS là bệnh hiếm gặp do hệ bổ thể bị hoạt hóa quá mức, gây tổn thương nội mô mạch máu, hình thành vi huyết khối và dẫn đến thiếu máu tán huyết, giảm tiểu cầu, suy thận cấp. Khác với HUS điển hình thường liên quan đến nhiễm Escherichia coli sinh độc tố Shiga, aHUS chủ yếu liên quan đến bất thường di truyền hoặc rối loạn miễn dịch nên dễ tái phát và diễn tiến nặng hơn.
Người bệnh thường mệt mỏi, da xanh, bầm tím hoặc chảy máu bất thường, kèm tiểu ít, phù, tăng huyết áp, buồn nôn hoặc đau bụng. Trường hợp nặng có thể đau đầu, lú lẫn, co giật hoặc khó thở. Triệu chứng thường tiến triển nhanh nên cần đi khám sớm.
Đây là bệnh lý nguy hiểm vì có thể gây tổn thương đa cơ quan trong thời gian ngắn. Biến chứng thường gặp gồm suy thận cấp, thiếu máu nặng, xuất huyết, tăng huyết áp ác tính, tổn thương thần kinh, suy tim và suy hô hấp. Nếu điều trị chậm, bệnh có thể dẫn đến suy đa cơ quan và tử vong.
Chẩn đoán dựa vào xét nghiệm phát hiện thiếu máu tán huyết, giảm tiểu cầu, suy thận cấp và các xét nghiệm loại trừ nguyên nhân tương tự như ADAMTS13, độc tố Shiga, gen bổ thể hoặc kháng thể kháng yếu tố H. Điều trị hiện nay chủ yếu bằng thuốc ức chế bổ thể C5 như Eculizumab (Soliris), kết hợp truyền máu, kiểm soát huyết áp và lọc máu khi cần.
Người bệnh cần dùng thuốc đúng chỉ định, tái khám đều đặn, theo dõi huyết áp và lượng nước tiểu, ăn nhạt, phòng tránh nhiễm trùng, không tự ý dùng thuốc và đi khám ngay khi có dấu hiệu bất thường để bảo vệ chức năng thận lâu dài.
Hỏi đáp (0 bình luận)