Gãy xương là gì? Nguyên nhân gây bệnh, phương pháp điều trị và nguyên tắc phòng ngừa

Thứ Tư ngày 07/03/2018
Gãy xương là tình trạng thương tổn do chấn thương hoặc do bệnh lý làm mất tính liên tục của xương. Trong đó, mất tính liên tục hoàn toàn gọi là gãy xương hoàn toàn; ngược lại, mất tính liên tục không hoàn toàn gọi là gãy xương không hoàn toàn. Người cao tuổi có nguy cơ bị gãy xương cao và chậm hồi phục nên cần phải chú ý trong điều trị và phòng ngừa.

Tìm hiểu chung

Gãy xương là gì? 

Gãy xương là sự phá hủy đột ngột các cấu trúc bên trong của xương, gây ra các tổn thương và làm gián đoạn đường truyền lực qua xương. Tình trạng xương mất tính liên tục và hoàn chỉnh này có thể do ngoại lực hoặc bệnh lý gây nên.


Triệu chứng thường gặp

Những dấu hiệu và triệu chứng của Gãy xương

Một số dấu hiệu nhận biết gãy xương bao gồm:

  • Nghe thấy hoặc cảm thấy tiếng gãy xương khi chấn thương xảy ra;

  • Bị sưng, bầm tím hoặc đau xung quanh khu vực bị thương;

  • Cảm thấy đau khi chạm, đè lên vết thương, di chuyển cả cơ thể hoặc phần xương nghi ngờ bị gãy;

  • Đoạn xương bị gãy biến dạng - trong trường hợp nặng, xương gãy có thể chọc qua da.

Biến chứng có thể gặp khi mắc bệnh Gãy xương

Hiếm khi gãy xương gây ra biến chứng nghiêm trọng nhưng đôi khi có thể bị tàn phế, suy giảm chức năng vĩnh viễn, thậm chí là tử vong. Nguyên nhân là do gãy xương hở dễ nhiễm trùng, dập nát phần mềm, tổn thương mạch máu gây tưới máu mô và dây thần kinh.

Trong khi đó, gãy xương kín ít ảnh hưởng đến mạch máu hoặc dây thần kinh, đặc biệt là nếu được điều trị sớm, xương bị gãy sẽ nhanh chóng liền lại, ít có khả năng gây biến chứng nghiêm trọng.

Các biến chứng cấp tính (chấn thương liên quan) bao gồm:

Chảy máu:

Tất cả các trường hợp gãy xương (và chấn thương mô mềm) đều kèm chảy máu. Hiếm khi, chảy máu trong hoặc ngoài đủ nghiêm trọng để gây ra sốc mất máu, trừ khi đó là xương chậu, xương đùi và gãy hở.

Tổn thương mạch máu:

Một số trường hợp gãy xương hở làm vỡ mạch máu. Một số trường hợp gãy xương kín, đặc biệt là gãy mỏm lồi cầu xương cánh tay cắt đứt mạch máu gây ra thiếu máu cục bộ chi xa và có thể không xuất hiện triệu chứng lâm sàng trong nhiều giờ sau chấn thương.

Tổn thương dây thần kinh:

Do dây thần kinh bị kéo căng bởi các mảnh xương gãy di lệch, bị chèn ép do vật tày tác động, bị dập nát hoặc xé rách bởi các mảnh xương sắc nhọn. Khi dây thần kinh bị đụng giập nhẹ (neurapraxia) làm gián đoạn dẫn truyền thần kinh, nhưng dây thần kinh không bị rách.

Neurapraxia gây mất tạm thời vận động và/ hoặc cảm giác; chức năng thần kinh hồi phục hoàn toàn trong khoảng 6 - 8 tuần. Khi dây thần kinh bị giập nát (axonotmesis) gây tổn thương sợi trục, nhưng bao myelin nguyên vẹn. Tổn thương này nghiêm trọng hơn đè ép. Tùy thuộc vào mức độ tổn thương, dây thần kinh có thể tái tạo trong nhiều tuần đến nhiều năm. Thông thường, gãy xương hở làm đứt các dây thần kinh (neurotmesis). Dây thần kinh này không thể tự lành và cần phải phẫu thuật.

Thuyên tắc phổi:

Những bệnh nhân bị gãy xương hông hoặc xương chậu nghiêm trọng, nguy cơ thuyên tắc phổi rất cao (biến chứng gây tử vong phổ biến nhất).

Tắc mạch do mỡ:

Gãy xương dài (thường gặp nhất là gãy xương đùi) có thể giải phóng chất béo (và các thành phần tủy khác) gây tắc nghẽn mạch máu phổi và dẫn đến thuyên tắc phổi với các biến chứng hô hấp.

Hội chứng khoang:

Áp lực mô tăng lên trong một không gian khép kín, làm gián đoạn nguồn cung cấp máu và giảm tưới máu mô. Nguyên nhân phổ biến là do các chấn thương gây dập nát hoặc gãy xương, làm tăng áp lực mô khi phù nề phát triển. Nguy cơ cao khi gãy xương cẳng tay, gãy mâm chày (gãy xương chày kéo dài vào khoang khớp), hoặc gãy trục xương chày.

Hội chứng khoang không được điều trị có thể dẫn đến tiêu cơ vân, tăng kali máu và nhiễm trùng. Về lâu dài, có thể gây co rút, giảm cảm giác và tê liệt. Bệnh nhân bị hội chứng khoang có thể phải cắt cụt chi và giảm khả năng sống sót.

Nhiễm trùng:

Bất kỳ chỗ gãy nào cũng có thể bị nhiễm trùng, nhưng nguy cơ cao nhất ở bệnh nhân bị gãy hở hoặc phải điều trị bằng phẫu thuật. Nhiễm trùng cấp tính có thể dẫn đến viêm tủy xương, rất khó chữa khỏi.

Các biến chứng lâu dài của gãy xương bao gồm:

Mất ổn định:

Các trường hợp gãy xương có thể dẫn đến sự mất ổn định của khớp, gây vô hiệu hóa và làm tăng nguy cơ mắc bệnh viêm xương khớp.

Cứng và suy giảm phạm vi cử động:

Các vết gãy kéo dài vào khớp thường phá vỡ sụn khớp; sụn khớp bị lệch có xu hướng tạo sẹo, gây thoái hóa khớp và làm suy giảm vận động khớp. Khả năng bị cứng nhiều hơn nếu cần bất động khớp lâu. Đầu gối, khuỷu tay và vai dễ bị cứng sau chấn thương, đặc biệt là người lớn tuổi.

Không liền hoặc chậm liền xương:

Đôi khi, gãy xương không hoặc chậm lành. Các yếu tố góp phần bao gồm bất động vị trí gãy không hoàn toàn, gián đoạn một phần nguồn cấp máu và các yếu tố của bệnh nhân (như sử dụng corticosteroid hoặc hormone tuyến giáp).

Xương gãy không liền lại thẳng (Malunion):

Xương không phục hồi lại thẳng như ban đầu do quá trình nắn chỉnh và không bất động hoàn toàn.

Hoại tử:

Một phần mảnh gãy có thể bị hoại tử, chủ yếu khi nguồn cấp máu bị hỏng. Gãy kín dễ bị hoại tử xương, như gãy xương thuyền, gãy cổ xương đùi di lệch và gãy cổ xương sên.

Viêm xương khớp:

Gãy xương làm phá vỡ bề mặt chịu lực của khớp hoặc khớp không ổn định và lệch trục, dẫn đến thoái hóa sụn khớp và viêm xương khớp.

Sự khác biệt về chiều dài các chi:

Nếu gãy xương ở trẻ em liên quan đến mảng tăng trưởng, thì sự phát triển có thể bị ảnh hưởng, dẫn đến một chi ngắn hơn chi kia. Ở người lớn, phẫu thuật sửa chữa gãy xương, đặc biệt là gãy xương đùi, có thể gây chênh lệch chiều dài chân, làm bệnh nhân đi lại khó khăn và cần nâng giày cho chân ngắn hơn.

Khi nào cần gặp bác sĩ?

Nếu có bất kỳ triệu chứng nào nêu trên xảy ra, bạn nên liên hệ ngay với bác sĩ để được kiểm tra và tư vấn. Chẩn đoán và điều trị sớm sẽ giảm nguy cơ tăng nặng của bệnh và giúp bạn mau chóng hồi phục sức khỏe.


Nguyên nhân gây bệnh

Nguyên nhân dẫn đến Gãy xương

Gãy xương xảy ra khi lực tác động lên xương vượt quá sức chịu đựng của xương. 

Gãy xương cơ học (chấn thương)

Xương có thể bị gãy do chấn thương trực tiếp hoặc gián tiếp. 

  • Chấn thương trực tiếp (lực tác dụng trực tiếp vào xương): Do va chạm, xuyên thấu (vết thương do đạn bắn) và do dập. 

  • Chấn thương gián tiếp (lực tác động ở khoảng cách xa vị trí gãy xương): Lực căng (lực kéo), lực nén và lực quay.

Gãy xương bệnh lý 

Xảy ra khi một vùng xương bị suy yếu do rối loạn (do loãng xương, ung thư, nhiễm trùng, u nang xương). Khi bị rối loạn loãng xương, những vết gãy này thường được gọi là gãy xương dễ gãy.


Nguy cơ mắc phải

Những ai có nguy cơ mắc phải Gãy xương?

Người cao tuổi dễ bị gãy xương vì:

  • Dễ bị ngã (mất khả năng giữ thăng bằng do tuổi tác, tác dụng phụ của thuốc hoặc phản xạ tư thế, hạ huyết áp thế đứng);

  • Suy giảm phản xạ bảo vệ khi ngã;

  • Loãng xương, trở nên phổ biến hơn khi lão hóa.

Yếu tố làm tăng nguy cơ mắc phải Gãy xương

Một số yếu tố làm tăng nguy cơ mắc Gãy xương, bao gồm:

  • Hút thuốc lá;

  • Lạm dụng rượu bia;

  • Sử dụng thuốc corticosteroid liều cao trong thời gian dài;

  • Mắc các bệnh về xương khớp như viêm khớp dạng thấp...

  • Mắc các bệnh lý mãn tính khác: bện Crohn, bệnh Celiac, viêm loét đại tràng, đái tháo đường...;

  • Tiền sử bản thân và gia đình từng bị gãy xương.


Phương pháp chẩn đoán và điều trị

Phương pháp xét nghiệm và chẩn đoán Gãy xương

  • Đánh giá thương tích;

  • Điều tra tiền sử và khám sức khỏe;

  • Chụp X quang để xác định gãy xương;

  • Chụp MRI hoặc CT (nếu cần).

Tại khoa cấp cứu, nếu nhận thấy có khả năng chấn thương nặng hoặc đa chấn thương (như va chạm xe cơ giới tốc độ cao hoặc ngã từ trên cao), cần kiểm tra toàn thân bệnh nhân xem có chấn thương nghiêm trọng đối với tất cả các hệ cơ quan hay không và hồi sức (nếu cần). Bệnh nhân, đặc biệt là người bị gãy xương chậu hoặc xương đùi, kiểm tra sốc xuất huyết do mất máu ẩn.

Nếu một chi bị thương, kiểm tra ngay lập tức để tìm vết thương hở và các triệu chứng hoặc dấu hiệu tổn thương mạch máu - thần kinh (tê, liệt, tưới máu kém) và hội chứng khoang (đau không tương quan với chấn thương, xanh xao, dị cảm, lạnh, không mạch).

Nghi ngờ gãy xương dựa trên các triệu chứng và kết quả khám sức khỏe, nhưng cần phải có hình ảnh (thường là chụp X quang) để khẳng định.

Cần kiểm tra chấn thương dây chằng, gân và cơ cũng như gãy xương. Gãy xương có thể ảnh hưởng đến quá trình đánh giá này (ví dụ: không thể thực hiện nghiệm pháp stress vì cơn đau nghiêm trọng).

Kiểm tra các khớp bên trên và dưới vị trí bị thương.

Tiền sử

Cơ chế (hướng và độ lớn của lực) có thể gợi ý loại chấn thương. Tuy nhiên, nhiều bệnh nhân không nhớ hoặc không mô tả được chính xác.

Tiếng "rắc" khi bị chấn thương có thể gợi ý gãy xương (hoặc chấn thương dây chằng, gân). Gãy xương và chấn thương dây chằng nghiêm trọng thường gây đau tức thì; cơn đau bắt đầu vài giờ đến vài ngày gợi ý chấn thương nhẹ. Đau không tương xứng với mức độ nghiêm trọng hoặc trở nên trầm trọng hơn trong vài giờ đến vài ngày ngay sau chấn thương gợi ý hội chứng khoang hoặc thiếu máu cục bộ.

Khám thực thể

Bao gồm:

  • Đánh giá mạch máu và thần kinh ngoại vi thương tổn;

  • Kiểm tra vết thương hở, biến dạng, sưng tấy, vết bầm tím và phạm vi cử động giảm hoặc bất thường;

  • Sờ nắn để biết đau, biến dạng và các khuyết tật ở xương hoặc gân;

  • Kiểm tra các khớp trên và dưới vùng bị thương (khớp vai, cột sống cổ và khuỷu tay);

  • Sau khi loại trừ gãy xương và trật khớp (trên lâm sàng hoặc bằng hình ảnh), thực hiện stress test của các khớp bị ảnh hưởng để xem có đau và không ổn định hay không.

Nếu tình trạng co thắt cơ và đau làm hạn chế việc thăm khám (đặc biệt là test gắng sức), có thể dùng thuốc giảm đau toàn thân hoặc thuốc gây tê cục bộ. Hoặc có thể bất động ổ gãy đến khi giảm co cứng cơ trong vài ngày, sau đó tiến hành thăm khám.

Một số phát hiện có thể chỉ ra gãy xương hoặc chấn thương cơ xương khác:

  • Biến dạng gợi ý gãy xương, nhưng cũng có thể là trật hoặc bán trật khớp.
  • Sưng gợi ý gãy xương hoặc chấn thương cơ xương đáng kể khác nhưng có thể cần vài giờ để biểu hiện rõ. Nếu không có sưng tấy trong khoảng thời gian này, thì không có khả năng gãy xương. Với một số trường hợp gãy xương (gãy xương xô, gãy xương nhỏ không di lệch), sưng tấy có thể nhẹ nhưng hiếm khi không có.

Đau nhói kèm với gần như tất cả các chấn thương cơ xương, và đối với nhiều bệnh nhân, sờ nắn xung quanh khu vực bị thương đều gây cảm giác khó chịu. Tuy nhiên, sự gia tăng đáng chú ý về độ đau ở một vùng cục bộ (đau điểm) gợi ý gãy xương.

Có thể sờ thấy vị trí mất liên tục ở xương gãy trong một số trường hợp.

Lạo xạo (tiếng đặc trưng khi sờ hoặc nghe được khi khớp cử động) có thể là dấu hiệu của gãy xương.

Nếu có vết thương gần chỗ gãy thì coi đó là gãy hở. Gãy xương hở được phân loại bằng hệ thống Gustilo-Anderson:

  • Độ I: Vết thương < 1cm, sạch, ít vụn xương và ít tổn thương mô mềm;

  • Độ II: Vết thương > 1cm, tổn thương mô mềm vừa phải và tước màng xương ít;

  • Độ IIIA: Tổn thương mô mềm nghiêm trọng và nhiễm bẩn đáng kể, nhưng còn mô mền che phủ;

  • Độ IIIB: Tổn thương mô mềm nghiêm trọng và nhiễm bẩn đáng kể, mô mền không che phủ hết;

  • Độ IIIC: Gãy hở kèm tổn thương mạch máu cần sửa chữa.

Phân độ hơn cho thấy nguy cơ nhiễm trùng và viêm tủy xương cao hơn; tuy nhiên, độ tin cậy của hệ thống này không cao (thường khoảng 60%), và một số tổn thương được đánh giá tốt nhất trong quá trình phẫu thuật.

Chú ý đến một số khu vực nhất định trong khi khám có thể giúp phát hiện các chấn thương thường bị bỏ sót.

Nếu khám thấy bình thường ở khớp mà bệnh nhân đau, nguyên nhân có thể là do đau vị trí gần kề. Ví dụ, bệnh nhân bị trượt xương đùi (hoặc gãy xương hông) có thể cảm thấy đau ở đầu gối.

Chẩn đoán hình ảnh

Không phải tất cả các trường hợp nghi ngờ gãy xương đều cần chẩn đoán hình ảnh, như trong gãy xương nhẹ và chỉ cần điều trị tương tự chấn thương mô mềm. Ví dụ: hầu hết các chấn thương từ ngón chân số 2 - 5 và chấn thương ở đầu ngón tay được điều trị triệu chứng cho dù có gãy xương hay không và không cần chụp X quang.

Bệnh nhân bị bong gân mắt cá chân, xác suất phát hiện gãy xương cần thay đổi phương pháp điều trị là thấp, do đó không cần chụp X quang. Đối với bong gân mắt cá chân, các tiêu chí có thẻ chụp X-quang (quy tắc Ottawa) giúp hạn chế chụp X quang cho những bệnh nhân có nhiều khả năng bị gãy xương cần điều trị cụ thể.

Nếu cần, chụp X quang thường quy trước.

Chụp X-quang thường quy cho thấy xương chủ yếu (và tràn dịch khớp thứ phát sau chảy máu hoặc gãy xương ẩn) và do đó rất hữu ích để chẩn đoán gãy xương. Bao gồm ít nhất 2 hình được chụp ở các hướng khác nhau (thường là phía trước và bên).

Các chế độ xem bổ sung (ví dụ: Xiên) được thực hiện khi:

  • Khám thấy gãy xương và 2 hình chụp không thấy gãy;

  • Một số khớp nhất định (mắt cá chân, bàn chân);

  • Nghi ngờ có bất thường.

MRI hoặc CT có thể chỉ định nếu:

  • Gãy xương không nhìn thấy trên phim chụp X quang thường quy nhưng nghi ngờ dựa trên lâm sàng (thường gặp với gãy xương mác, gãy xương hông, cổ xương đùi do va đập).

  • Cần thêm chi tiết để hướng dẫn điều trị (gãy xương vai, xương chậu hoặc xương trong ổ mắt).

Nếu các phát hiện sau khi bị ngã cho thấy gãy xương hông nhưng chụp X quang vẫn bình thường, thì nên thực hiện chụp MRI.

Các xét nghiệm khác để kiểm tra các chấn thương liên quan:

  • Chụp động mạch hoặc chụp CT mạch để kiểm tra các chấn thương động mạch nghi ngờ (thường được thực hiện để đánh giá động mạch khoeo khi khớp gối bị trật khớp).

  • Đo điện cơ và/hoặc dẫn truyền thần kinh (hiếm khi được thực hiện ngay lập tức mà chỉ khi các triệu chứng thần kinh kéo dài vài tuần đến vài tháng sau chấn thương).

Phương pháp điều trị Gãy xương hiệu quả

Điều trị ban đầu

Xử lý trước các vấn đề nghiêm trọng liên quan như sốc xuất huyết, tổn thương động mạch (phẫu thuật sửa chữa ngay trừ khi chỉ ảnh hưởng đến các động mạch nhỏ có tuần hoàn bàng hệ tốt), hội chứng khoang.

Phẫu thuật nối các dây thần kinh bị đứt rời.

Rối loạn thần kinh và rối loạn nhịp tim: Quan sát, các biện pháp hỗ trợ và đôi khi là vật lý trị liệu.

Cần bằng xương gãy hở bằng gạc vô trùng, điều trị dự phòng uốn ván, kháng sinh phổ rộng (ví dụ: Cephalosporin thế hệ thứ 2 cộng với aminoglycoside) và phẫu thuật để rửa và khử trùng (ngăn ngừa nhiễm trùng). Để giảm thiểu nguy cơ nhiễm trùng trong gãy xương hở, nên tiêm kháng sinh đường tĩnh mạch sớm (trong vòng 1 giờ sau khi đến khoa cấp cứu).

Hầu hết các trường hợp gãy xương vừa và nặng, đặc biệt là mất ổn định, được bất động ngay lập tức bằng cách nẹp (không dùng bột thạch cao) để giảm đau và ngăn ngừa tổn thương thêm cho các mô mềm. Bệnh nhân bị gãy xương dài cần được nẹp để ngăn ngừa thuyên tắc do mỡ.

Điều trị đau càng sớm càng tốt, thường bằng opioid hoặc gây tê thần kinh khu vực. Nếu bệnh nhân bị gãy xương tứ chi và không kèm hội chứng khoang, có thể gây tê vùng; giúp giảm thiểu việc sử dụng opioid và giảm đau nhiều hơn opioid đơn thuần.

Sau điều trị ban đầu, cân chỉnh xương gãy, bất động và điều trị triệu chứng theo chỉ định.

Nắn xương

Trật khớp xoay, gập góc hoặc di lệch đáng kể thường được điều trị bằng cách nắn chỉnh (sắp xếp lại xương hoặc các mảnh xương), thường cần giảm đau và an thần. Các trường hợp ngoại lệ như gãy xương ở trẻ em, biến dạng có thể khắc phục dần theo thời gian.

Nắn kín (bằng thao tác, không rạch da) được thực hiện khi có thể. Nếu không, phải phẫu thuật hở (có rạch da) và cần gây mê.

Cố định gãy xương kín thường bằng cách bó bột, nhưng một số chỉ cần nẹp hoặc treo tay.

Phẫu thuật chỉnh xương thường được cố định bằng dụng cụ cả bên trong lẫn ngoài. Trong quá trình mổ cố định bên trong (ORIF), các mảnh gãy được căn chỉnh và giữ cố định bằng chốt, vít và tấm. ORIF thường được chỉ định khi:

  • Gãy trong khớp bị di lệch (để căn chỉnh chính xác bề mặt khớp);
  • Một số loại gãy xương cụ thể;
  • Nắn kín không hiệu quả;
  • Gãy xương bệnh lý ở xương bị suy yếu do ung thư; không lành lại bình thường, ORIF giảm đau nhanh hơn so với các phương pháp điều trị khác và giúp phục hồi sớm.
  • Không thể bất động kéo dài (cần thiết để chữa lành gãy xương) (ví dụ: Đối với gãy xương hông hoặc trục xương đùi); ORIF phục hồi độ ổn định sớm, giảm đau và tạo điều kiện vận động.

Giá đỡ và bảo vệ

Giúp ngăn ngừa thương tích thêm. 

Nghỉ ngơi

Ngăn ngừa chấn thương thêm và tăng tốc độ chữa lành.

Chườm đá và băng ép

Giảm thiểu sưng và đau. Chườm đá trong túi ni lông hoặc khăn và chườm không liên tục trong 24 - 48 giờ đầu (trong 15 - 20 phút/lần, càng thường xuyên càng tốt). Các vết thương có thể được băng ép bằng nẹp, băng thun, hoặc băng ép Jones (đối với một số vết thương có khả năng gây sưng tấy nghiêm trọng). 

Nâng chi bị thương

Cao trên tim trong 2 ngày đầu tiên giúp máu về tim, thoát dịch phù nề và giảm thiểu sưng tấy.

Sau 48 giờ, chườm ấm định kỳ (chườm nóng) trong 15 - 20 phút để giảm đau và nhanh lành vết thương.

Cố định

Việc bất động làm giảm đau và tạo điều kiện thuận lợi cho chữa lành bằng cách ngăn ngừa chấn thương thêm và giữ cho đầu gãy thẳng hàng. Các khớp gần và xa của chấn thương nên được bất động.

Hầu hết các trường hợp gãy xương đều được bó bột trong nhiều tuần liền. Một số trường hợp gãy xương mau lành, ổn định (như gãy xương cổ tay ở trẻ em) khôngcần bó bột; vận động sớm sẽ tốt hơn.

Bó bột 

Thường được sử dụng cho những trường hợp gãy xương cần bất động nhiều tuần. Hiếm khi, sưng tấy dưới bó bột đủ nghiêm trọng để góp phần gây ra hội chứng khoang. Nếu bác nghi ngờ có sưng tấy nghiêm trọng dưới băng bột, cần cắt mở bó bột (và tất cả các lớp đệm) từ đầu đến cuối theo chiều trung gian và theo chiều ngang (hai mảnh).

Bệnh nhân bó bột nên:

  • Giữ bó bột khô ráo.
  • Không bao giờ đặt đồ vật bên trong bó bột.
  • Kiểm tra các mép và vùng da xung quanh bó bột mỗi ngày và thông báo cho bác sĩ nếu có chỗ bị đỏ hoặc đau.
  • Dùng băng dính mềm, vải hoặc vật liệu mềm khác để dán các cạnh gồ ghề ngăn các cạnh không làm da bị thương.
  • Khi nghỉ ngơi, đặt băng bột cẩn thận, có thể sử dụng một chiếc gối hoặc miếng đệm nhỏ để ngăn không cho mép chèn ép hoặc ăn sâu vào da.
  • Nâng cao băng bột để giảm sưng.
  • Liên hệ bác sĩ ngay lập tức nếu: Cơn đau vẫn còn hoặc cảm thấy căng bó bột quá mức, có mùi hôi từ bên trong bó bột, bị sốt (có thể biểu hiện nhiễm trùng), cơn đau ngày càng nặng hơn hoặc cảm giác tê hoặc yếu mới nào (có thể là dấu hiệu của hội chứng khoang).

Nẹp

Được sử dụng để cố định một số chấn thương ổn định, bao gồm nghi ngờ gãy xương nhưng chưa được chứng minh và gãy xương nhanh chóng lành cần bất động vài ngày hoặc ít hơn.

Bệnh nhân nẹp xương có thể chườm đá và di chuyển nhiều hơn so với bó bột. Ngoài ra, nó không gây chèn ép, phù nề và hội chứng khoang. Một số chấn thương cần bó bột sẽ được bất động ban đầu bằng nẹp cho đến khi hết sưng.

Treo tay 

Hạn chế khả năng cử động; hữu ích cho một số trường hợp gãy xương nhất định (gãy xương đòn di lệch ít, gãy xương cánh tay), đặc biệt nếu không muốn bất động hoàn toàn (ví dụ: Đối với chấn thương vai, nếu bất động hoàn toàn, có thể dẫn đến viêm bao kết dính [vai đông cứng]).

Băng cuốn 

Sử dụng miếng quấn (mảnh vải hoặc dây đeo) ​​cùng với treo tay để ngăn cánh tay cử động, đặc biệt là vào ban đêm. Băng quấn quanh lưng và phần bị thương.

Nghỉ ngơi tại giường  

Được yêu cầu đối với gãy xương (một số gãy xương đốt sống hoặc xương chậu), có thể gây ra các vấn đề như huyết khối tĩnh mạch sâu, nhiễm trùng đường tiết niệu, suy giảm chức năng cơ.

Bất động khớp lâu (> 3 - 4 tuần đối với người trẻ) có thể gây cứng, co cứng và teo cơ. Những biến chứng này phát triển nhanh chóng và có thể vĩnh viễn, đặc biệt là ở những người lớn tuổi. Một số vết thương nhanh chóng lành được điều trị tốt nhất bằng cách tiếp tục vận động tích cực trong vài ngày hoặc vài tuần đầu tiên; vận động sớm như vậy giảm thiểu co cứng và teo cơ, tăng tốc phục hồi chức năng.

Nẹp và bó bột nên cố định khớp ở những vị trí tối ưu hóa khả năng phục hồi đầy đủ chức năng (ví dụ, bất động khớp xương siêu âm [MCP] nên định vị khớp MCP ở trạng thái uốn cong để duy trì sự kéo dài của gân tay).

Bác sĩ vật lý trị liệu tư vấn cho bệnh nhân về những gì họ có thể làm trong thời gian bất động để duy trì nhiều chức năng nhất cũng như các bài tập cải thiện phạm vi chuyển động và sức mạnh cơ bắp, củng cố và ổn định khớp bị thương, giúp ngăn ngừa tái phát và suy giảm lâu dài.

Các phương pháp khác

Thay khớp (tạo hình khớp), thường khi gãy xương làm tổn thương nghiêm trọng phần trên của xương đùi hoặc xương cùng.

Ghép xương có thể được thực hiện ngay lập tức nếu khoảng cách giữa các mảnh xương quá lớn hoặc sau đó nếu việc điều trị bị trì hoãn (chậm liền) hoặc không xảy ra (không liền).


Chế độ sinh hoạt và phòng ngừa

Những thói quen sinh hoạt có thể giúp bạn hạn chế diễn tiến của Gãy xương

Chế độ sinh hoạt:

  • Tuân thủ theo hướng dẫn của bác sĩ trong việc điều trị. 

  • Duy trì lối sống tích cực, hạn chế sự căng thẳng.

  • Liên hệ ngay với bác sĩ khi cơ thể có những bất thường trong quá trình điều trị.

  • Thăm khám định kỳ để được theo dõi tình trạng sức khỏe, diễn tiến của bệnh và để bác sĩ tìm hướng điều trị phù hợp trong thời gian tiếp theo nếu bệnh chưa có dấu hiệu thuyên giảm.

  • Bệnh nhân cần lạc quan. Tâm lý có ảnh hưởng rất lớn đến điều trị, hãy nói chuyện với những người đáng tin cậy, chia sẻ với những thành viên trong gia đình, nuôi thú cưng hay đơn giản là đọc sách, làm bất cứ thứ gì khiến bạn thấy thoải mái.

  • Thực hiện theo hướng dẫn vận động của bác sĩ để phục hồi khả năng cử động sớm nhất.

  • Không tự ý sử dụng thuốc bổ xương khớp mà không có ý kiến của bác sĩ.

Chế độ dinh dưỡng:

  • Chất đạm có trong: Thịt, cá, sữa, pho mát, pho mát, sữa chua, các loại hạt, hạt, đậu, các sản phẩm từ đậu nành và ngũ cốc tăng cường. Khoảng một nửa cấu trúc xương được làm bằng chất này. Khi bị gãy xương, cơ thể cần nó để xây dựng xương mới và phục hồi. Đạm cũng giúp cơ thể hấp thụ và sử dụng calci, một chất dinh dưỡng quan trọng khác giúp xương khỏe mạnh.
  • Calci có trong: Sữa, sữa chua, pho mát, pho mát, bông cải xanh, củ cải hoặc rau cải xanh, cải xoăn, cải ngọt, đậu nành, đậu, cá ngừ đóng hộp hoặc cá hồi có xương, sữa hạnh nhân và ngũ cốc hoặc nước trái cây tăng cường. Calci giúp xương chắc khỏe và vết gãy xương mau lành. Người lớn nên bổ sung 1.000 - 1.200 miligam calci mỗi ngày. Hỏi ý kiến bác sĩ trước khi sử dụng thực phẩm chức năng chứa calci.
  • Vitamin D có trong: Cá kiếm, cá hồi, dầu gan cá, cá mòi, gan, sữa tăng cường hoặc sữa chua, lòng đỏ trứng và nước cam bổ sung. Vitamin D giúp máu tiếp nhận và sử dụng calci cũng như hình thành các khoáng chất trong xương. Vitamin D được hấp thu ánh sáng mặt trời chiếu vào da, vì vậy nên ở ngoài trời mỗi ngày khoảng 15 phút. Vitamin D chỉ được tìm thấy tự nhiên trong một số loại thực phẩm như lòng đỏ trứng và cá béo, nhưng các nhà sản xuất thêm nó vào các loại thực phẩm khác, như sữa hoặc nước cam. Người lớn nên bổ sung ít nhất 600 IU vitamin D mỗi ngày và nếu trên 70 tuổi, nên bổ sung ít nhất 800 IU.
  • Vitamin C có trong: Trái cây có múi như cam, kiwi, quả mọng, cà chua, ớt, khoai tây và rau xanh.
  • Collagen là một loại protein xây dựng quan trọng cho xương. Vitamin C giúp cơ thể tạo ra collagen, giúp vết gãy xương mau lành. 
  • Sắt có trong: Thịt đỏ, thịt gà sẫm hoặc gà tây, cá nhiều dầu, trứng, trái cây sấy khô, rau lá xanh, bánh mì nguyên hạt và ngũ cốc. Nếu bị thiếu máu do thiếu sắt có thể phục hồi chậm hơn sau khi gãy xương. Sắt giúp cơ thể tạo ra collagen để xây dựng lại xương, đồng thời góp phần đưa oxy vào xương để giúp xương lành lại.
  • Kali có trong: Chuối, nước cam, khoai tây, quả hạch, hạt, cá, thịt và sữa. Bổ sung đủ khoáng chất này trong chế độ ăn uống giảm lượng calci mất đi khi tiểu. 

Giảm bớt hoặc ngưng dùng các thực phẩm sau:

  • Rượu: Đồ uống này làm chậm quá trình liền xương. Uống quá nhiều rượu cũng có thể khiến đứng không vững, dễ bị ngã và có nguy cơ bị thương ở xương cùng.
  • Muối: Quá nhiều chất này trong chế độ ăn uống có thể khiến mất nhiều calci hơn trong nước tiểu. Muối có thể có trong một số thực phẩm hoặc đồ uống không có vị mặn, vì vậy hãy kiểm tra nhãn mác và đặt mục tiêu khoảng 1 thìa cà phê hoặc 6 gam/ngày.
  • Cà phê: Nhiều caffeine (> 4 tách cà phê mạnh/ngày) có thể làm chậm quá trình lành xương một chút. Nó có thể khiến đi tiểu nhiều hơn và mất nhiều calci hơn qua nước tiểu. Một lượng cà phê hoặc trà vừa phải là được.

Phương pháp phòng ngừa Gãy xương hiệu quả

Để phòng ngừa bệnh hiệu quả, bạn có thể tham khảo một số gợi ý dưới đây:

Trong nhà:

  • Cân nhắc tập luyện thăng bằng và vật lý trị liệu nếu cảm thấy khó chịu. Sử dụng gậy hoặc khung tập đi khi cần.

  • Thường xuyên dọn phòng. Đảm bảo dây điện và dây không cắt ngang lối đi.

  • Đảm bảo tất cả các phòng đều có ánh sáng tốt.

  • Sử dụng thảm không trượt dưới bất kỳ tấm thảm nào.

  • Mang giày - không chỉ tất - khi ở nhà.

  • Kiểm tra thị lực bằng cách khám mắt bởi bác sĩ nhãn khoa.

Ngoài trời:

  • Chú ý đến môi trường xung quanh. Đề phòng bất cứ điều gì có thể trở thành chướng ngại vật hoặc khiến chệch hướng.

  • Sử dụng gậy hoặc khung tập đi và đi giày đế cao su để có độ bám tốt hơn.

  • Cẩn thận ở lề đường. Theo dõi bước chân khi bạn bước lên.

  • Để đèn ở hiên nhà nếu về nhà sau khi trời tối.

  • Giữ cân nặng hợp lý.

  • Tập thể dục như đi bộ giúp xương khỏe mạnh. Các bài tập xây dựng hoặc duy trì cơ bắp cũng có thể cải thiện sự cân bằng.

  • Ăn uống đúng cách.


  • Mọi thông tin trên đây chỉ mang tính chất tham khảo. Việc sử dụng thuốc phải tuân theo hướng dẫn của bác sĩ chuyên môn.
Nguồn tham khảo

    1. https://www.msdmanuals.com/

    2. https://www.webmd.com/osteoporosis/osteo-fracture-diet#

    3. https://emedicine.medscape.com/article/1270717-treatment#

    4. http://www.benhvien103.vn/dai-cuong-gay-xuong/